Tạp chí KHHB

Thảo luận trong 'Thư Viện' bắt đầu bởi Apollo, 17 Tháng ba 2011.

Trạng thái chủ đề:
Không mở trả lời sau này.
  1. MRGIO

    MRGIO New Member

    Tham gia ngày:
    25 Tháng tư 2012
    Bài viết:
    126
    Điểm thành tích:
    0
    Re: Ðề: Tạp chí KHHB

    Số làm quan xưa và nay (GS Hoàng Quân)
    - Các cách khoa minh lộc ám
    - Các cách tử vi cư ngọ
    - Những lá số tổng trưởng, tổng giám đốc, tỉnh trưởng,
    bác sĩ, thẩm phán, giáo sư đại học

    (Tiếp theo kỳ trước)
    Cách Khoa minh lộc ám
    1) Định nghĩa:
    Gọi là Khoa minh lộc ám khi Hóa Khoa thủ mệnh, nhị hợp có Hóa Lộc hoặc Hóa Lộc thủ mệnh, nhị hợp có Hóa Khoa.
    Tỷ dụ: tuổi Nhâm, Thái Dương, Thiên Lương ở Mão với Hóa Lộc. Liêm Trinh, Thiên Phủ ở Tuất với Hóa Khoa. Mệnh lập tại Mão hay Tuất đều được cách Khoa minh lộc ám
    2) Phân tích cách Khoa minh lộc ám
    Hi di tiên sinh phú đoán:
    “ Khoa minh lộc ám vì chí công khanh”

    (Triệu thị minh thuyết Tử vi kính)
    Nghĩa là người có cách Khoa minh lộc ám làm tới Công khanh, lại nói:
    Khoa minh lộc ám
    Tuần triệt võ xâm
    Bất kiến sát tinh
    Nhị hội Quyền Lộc, Tả Hữu, Xương Khúc
    Vị động công khanh chi quý.
    (Tử vi tinh nghĩa)
    Nghĩa là người có cách Khoa minh lộc ám, không bị Tuần, Triệt, sát tinh nhập cung mà hội được Tả, Hữu, Xương, Khúc, Quyền, Lộc (Lộc Tồn) làm tới bậc công khanh.
    Chữ nhập cung ở đây phải hiểu là Mệnh, Tài, Di, Quan và cung nhị hợp. Xét về xuất xứ câu trên Hi di tiên sinh phát biểu sau khi được xem số cho khai quốc công thần nhà Tống. Câu dưới viết trong sách Tử vi tinh nghĩa. Câu trên là lời đáp lại Tống thái tổ hỏi về bậc công khanh tại triều bấy giờ có cách gì giống nhau, chỉ dùng đoán cho các vị công khanh thôi. Vì không có cách Khoa minh lộc ám, thuộc loại thượng đẳng thì làm sao có thể đứng tại triều đình được. Còn câu dưới dùng để đoán cho mọi loại người.
    3) Các cách Khoa minh lộc ám:
    Sách Đông A di sự viết: “Không phải tuổi nào cũng được hưởng cách Khoa minh lộc ám”.
    Trong 10 hàng Can, thì các tuổi Giáp, Đinh, Kỷ, Canh: không được hưởng cách này. Tuổi ất, Nhâm, Quý, mỗi tuổi có 4 cách. Tuổi Bính, Mậu, Tân có 24 cách. Tổng cộng 84 cách. Mỗi cách tùy theo giờ sinh, tháng sinh, lại có một loại người, tức là một cách sinh ra 12 loại người. Tùy vào 6 Giáp chủ (tục gọi là con nhà Giáp). Tuần thay đổi có thêm 6 loại người nữa. Thành ra cách Khoa minh lộc ám có 1728 loại người.
    Sau đây là các cách Khoa minh lộc ám:
    a) Tuổi ất, 4 cách:
    - Thiên Cơ, Hóa Lộc tại Ngọ, Tử Vi, Phá Quân, Hóa Khoa tại Mùi. Mệnh lập tại Mùi hay Ngọ.
    - Thiên Cơ, Hóa Lộc tại Tý, Tử Vi, Phá Quân, Hóa Khoa tại Sửu. Mệnh lập tại Tý hay Sửu.
    Tuổi Nhâm, 4 cách:
    - Thái Dương, Thiên Lương, Hóa Lộc tại Mão. Liêm Trinh, Thiên Phủ, Hóa Khoa tại Tuất. Mệnh tại Tuất hay Mão.
    - Thái Dương, Thiên Lương, Hóa Lộc tại Dậu nhị hợp với Liêm Trinh, Thiên Phủ, Hóa Khoa tại Thìn. Mệnh tại Thìn hay Dậu.
    c) Tuổi Quý, 4 cách:
    - Thiên Cơ, Thái âm, Hóa Khoa tại Thân, nhị hợp với Phá Quân, Vũ Khúc, Hóa Lộc tại Tỵ. Mệnh lập tại Thân hay Tỵ.
    - Thiên Cơ, Hóa Khoa tại Dần nhị hợp với Vũ Khúc, Phá Quân, Hóa Lộc tại Hợi. Mệnh lập tại Dần hay Hợi.
    d) Tuổi Bính, 24 cách:
    Vì Khoa đi với Xương, nên cứ mỗi vị trí của Xương nhị hợp với Thiên Đồng đi với Hóa Lộc lại hợp thành 2 cách. Với 12 cách vị trí của Xương, có 24 cách Khoa minh lộc ám cho tuổi Bính.
    e) Tuổi Mậu, 24 cách:
    Vì Khoa đi với Tham, nên cứ mỗi vị trí của Tả nhị hợp với Tham đi với Hóa Lộc lập thành 2 cách. Với 12 vị trí của Tả, có 24 cách Khoa minh lộc ám cho tuổi Mậu.
    f) Tuổi Tân, 24 cách:
    Vì Khoa đi với Khúc, nên cứ mỗi vị trí của Văn Khúc nhị hợp với Cự Môn đi với Hóa Lộc lập thành 2 cách. Với 12 vị trí của Khúc, có 24 cách Khoa minh lộc ám cho tuổi Tân.
    4) Thứ bậc của cách Khoa minh lộc ám
    Trong 84 cách, phân thành 2880 loại người. Triệu thị đưa ra trường hợp kinh nghiệm mấy trăm năm của triều Tống, nghiên cứu số các quan:
    - Muốn được tới công khanh, bộ sao thủ Mệnh không được bình hòa hay hãm địa. Hung sát tinh không nhập cung (Mệnh, Tài, Quan, Di) và cung nhị hợp của Mệnh.
    + Nếu được trọn bộ Tả, Hữu, Xương, Khúc, Quyền, Lộc Tồn, thêm Khôi, Việt, Hồng… càng hay. Đó là bậc 1 thượng đẳng. Chỉ có thể bớt đi 2 hoặc 3 sao, nhưng không được bớt Quyền.
    + Nếu được nửa bộ Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi, Việt, thêm Quyền, Lộc Tồn.́ Đó là bậc 2, trung đẳng.
    + Được 2 trong 3 bộ Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi, Việt trở lên. Thêm Quyền hoặc Lộc Tồn. Đó là bậc 3 thứ đẳng.
    + Được 1 trong 3 bộ Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi, Việt trở lên. Hoặc 3 trong 6 cát tinh trên, thêm Quyền hoặc Lộc Tồn. Đó là bậc 4 hạ đẳng.
    5) Các cách Khoa minh lộc ám khác:
    Tuy nhiên Triệu thị không khẳng định rằng cứ phải được như trên mới làm đến công khanh, phải căn cứ vào số cát tinh nhiều hung tinh ít mà luận đoán. Toàn hung tinh, Tuần Triệt là số của tiểu lại (thư ký, giáo chức tiểu học, y tá…)
    6) Kết luận:
    Khoa minh lộc ám là một trong những cách khó đoán nhất. Vì biến thành 84 cách khác nhau thành 2880 loại người. Căn bản của nó là người có học, nếu Khoa thủ Mệnh, nhất sinh phong lưu nếu Lộc thủ Mệnh. Giới hạn của nó là Tam công và sĩ thứ ở ẩn hoặc phong lưu sung túc.
    Điểm lại kinh nghiệm qua các thời:
    Đời Tống (Bộ Triệu thị minh thuyết Tử vi kinh).
    - 2 Vua sáng nghiệp.
    - 6 Vương.
    - 5 Tể tướng.
    - 25 Hầu.
    - 18 Tam công.
    - 21 Vị đại tướng quân.
    - 112 Cửu khanh.
    Đời Trần (Đông A di sự)
    - 1 Vua sáng nghiệp.
    - 4 Vương.
    - 2 Tể tướng.
    - 7 Hầu.
    - 5 Đại tướng quân.
    - 18 Tam công.
    - 28 Cửu khanh.
    Các nhân vật từ 1950 đến giờ chúng tôi sưu tầm được:
    - 1 Thủ tướng.
    - 5 Bộ trưởng.
    - 2 Tướng.
    - 4 Tổng giám đốc, Tổng cục trưởng.
    - 20 Bác sĩ, Luật sư, Thẩm phán, Giáo sư đại học.


    Cách Tử vi cư ngọ
    1) Định nghĩa:
    Tử vi cư ngọ là cách mà người có Tử vi thủ mệnh tại cung Ngọ.
    Đây là một cách dễ thấy và dễ đoán nhất. Người có cách Tử vi cư ngọ là được cách Tử Phủ Vũ Tướng.
    - Quan, Tuất cung, có Liêm, Phủ, Liêm phát trước, Phủ phát sau, nên thường là Võ trước sau là Văn.
    Cung Thiên Di: Tham Lang.
    Cung Tài Bạch: Vũ, Tướng.
    Nếu Kiếp, Không nhập cung Quan, Mệnh thì cách bị phá mất, vì Tử, Phủ tối kỵ Kiếp Không.
    2) Phân tích cách Tử vi cư ngọ:
    Phú đoán:
    “ Tử vi cư ngọ, vô sát tẩu, vị chí công khanh”
    (Triệu thị minh thuyết Tử vi kinh)
    Nghĩa là người có cách Tử vi cư ngọ, không bị hung sát tinh nhập cung làm tới công khanh. Lại nói:
    “Tử vi cư ngọ, vô hình kỵ, Giáp, Đinh, Kỷ, chí công khanh”
    (Tử vi tinh nghĩa)
    Nghĩa là người có cách Tử vi cư ngọ, tuổi Giáp, Đinh, Kỷ, không bị Thiên Hình, Hóa Kỵ nhập cung làm tới công khanh.
    Hai câu phú trên đây đều do Hi di tiên sinh mà ra. Xét kỹ ý nghĩa hoàn toàn khác nhau. Người mới học Tử vi, hoặc người không sáng suốt là bị sai lầm, vì không hiểu rõ ý nghĩa sự xuất xứ của nó. Rồi cứ cãi rằng Tử vi cư ngọ là làm tới công khanh là tai hại.
    Vương An Thạch giải rằng:
    Hi di tiên sinh từ Hoa Sơn về kinh. Giảng khoa Tử vi cho Thái tổ nhà ta. Ngài xem số cho các vị khai quốc công thần, thấy số đông có cách Tử vi cư ngọ là ở bậc công khanh. Khi Thái tổ hỏi:
    - Những vị công khanh này có gì giống nhau chăng? Đáp: Tử vi cư ngọ vô sát tẩu.
    Xét cách Tử vi cư ngọ có nhiều bậc cao tới Đế vương tháp là phường đạo tặc. Nhưng những vị đã ngồi trong sân rồng, đều ở thượng cách Tử vi cư ngọ cả. Sau này truyền cho đệ tử, tiên sinh chép trong Tử vi tinh nghĩa: phải tuổi Giáp, Đinh, Kỷ mà không bị Hình, Kỵ mới tới công khanh. Cũng cùng một ý nghĩa, có khác là nói trong hai hoàn cảnh khác nhau mà thôi.

    3) Các cách Tử vi cư ngọ
    Tại sao phải tuổi Giáp, Đinh, Kỷ mới tốt?
    a) Tuổi Giáp:
    Lộc Tồn cư Tài, cùng Hóa Khoa.
    Hóa Lộc cư Quan.
    Hóa Quyền cư Phúc.
    Hóa Kỵ đi theo Thái Dương tại cung Tử.
    Tuổi Kỷ:
    Lộc Tồn thủ Mệnh
    Hóa Lộc cư Tài.
    Hóa Quyền cư Di.
    Hóa Khoa cư Tử.
    Hóa Kỵ đi theo Văn Khúc.
    c) Tuổi Đinh:
    Lộc Tồn thủ Mệnh.
    Hóa Lộc cư Nô.
    Hóa Quyền, Kỵ cư Tật.
    Hóa Khoa cư Huynh đệ.
    Trong ba tuổi thì tuổi Kỷ tốt hơn vì có đủ Quyền, song Lộc, Khôi. Nhưng không có Khoa. Xấu nhất tuổi Kỷ Sửu, Kỷ Dậu, Kỷ Tỵ vì Mệnh, Tài, Quan bị Tuần. Tuổi Giáp thiếu Quyền, nhưng được Khoa. Xấu nhất tuổi Giáp Thân, Giáp Thìn, Giáp Tý vì Mệnh, Tài, Quan bị Tuần. Tuổi Đinh chỉ được Lộc Tồn tại Mệnh mà thôi.
    d) Không có hình:
    Không được sinh tháng chẵn, vì sinh tháng chẵn bị:
    - Sinh tháng2, Hình ở Quan, Không ở Tài, Kiếp ở Phúc.
    - Sinh tháng 4, Hình ở Di, Không ở Di, Kiếp ở Quan.
    - Sinh tháng 6, Hình ở Tài, Không ở Quan, Kiếp ở Di.
    - Sinh tháng 8, Không ở Phúc, Kiếp ở Tài.
    - Sinh tháng 10, Hình ở Mệnh, với Không, Kiếp ở Thê (Mệnh Không, Thân Kiếp)
    - Sinh tháng 12, Không ở Thê, Kiếp ở Mệnh (Mệnh Kiếp, Thân Không).
    e) Không có Kỵ:
    Tuổi Giáp, Đinh, không bao giờ bị Hóa Kỵ nhập cung, vì ở cung khác rồi. Chỉ có tuổi Kỷ, Văn Khúc đi với Hóa Kỵ, nên phải tránh sao Văn Khúc nhập cung.
    - Sinh tháng giêng, Kỵ ở Di.
    - Sinh tháng 3, Kỵ ở Tài.
    - Sinh tháng 7, Kỵ ở Mệnh.
    - Sinh tháng 11, Kỵ ở Quan.
    4) Thứ bậc cách Tử vi cư ngọ:
    Bộ Đông A di sự đã chia thành bậc các cách sau đây:
    Tử vi cư ngọ, của ba tuổi Giáp, Đinh, Kỷ, mỗi tuổi tủy theo tháng sinh tùy theo con nhà giáp chủ… Mỗi hàng Can có 12 loại người khác nhau tùy theo Tuần đóng, mỗi loại người trên lại có 6 loại khác nhau nữa. Tổng cộng có tới 216 loại người. Các tuổi hàng Can khác cũng có những loại người được số tốt.
    a) Bậc 1, thượng đẳng:
    - Tuổi Kỷ, sinh tháng 9, trừ Kỷ Sửu, Dậu, Tỵ, bị Tuần.
    - Tuổi Giáp sinh tháng 9, 11, trừ Giáp Thân, Thìn, Tý, bị Tuần.
    Bậc 2, trung đẳng:
    - Tuổi Kỷ, sinh tháng 1,3,5,11.
    - Tuổi Giáp, sinh tháng 1,3,5,7.
    - Tuổi Đinh sinh tháng 9,11.
    c) Bậc 3, thứ đẳng:
    - Tuổi Kỷ, sinh tháng 2,6,8.
    - Tuổi Giáp, sinh tháng 2,6.
    d) Bậc 4, hạ đẳng:
    - Tuổi Kỷ, sinh tháng 4,8,10,12.
    - Tuổi Giáp, sinh tháng 4,8,10,12.
    - Tuổi Đinh, sinh tháng 1,3,5,7.
    5) Tử vi cư ngọ các tuổi khác:
    - Không thể đạt tới tam công nhưng tới cửu khanh.
    - Cần tránh Tuần, Triệt ở Mệnh, Tài, Quan.
    - Không bị Hình, Kỵ, Kiếp, Không nhập cung.
    - Được một hoặc nhiều trong tam Hóa, Tả Hữu, Xương Khúc.
    Các tuổi sau đây có cách Tử vi cư ngọ cũng đắc cửu khanh:
    Bậc 3, thứ đẳng:
    - Tuổi Bính, khi Mệnh sinh tháng 9. 11, vì thêm Tả, Hữu, Khoa, Xương hoặc Khúc.
    - Tuổi Tân, sinh tháng 11, Tả Hữu, Khúc, Khoa, Việt.
    - Tuổi Nhâm, Quyền ở Mệnh. Khoa ở Quan, Kỵ ở Tài. Sinh tháng 9,11 được Tả Hữu, Xương hoặc Khúc. Sinh tháng 1,7 được Xương, Khúc và Tả hoặc Hữu.
    Bậc 4, hạ đẳng:
    - Tuổi mậu có Quyền ở Di, nhưng bị Triệt Kình ở Mệnh. Sinh tháng 9,11, được Tả Khoa Hữu, và Xương hoặc Khúc. Sinh tháng 1, giờ Thân, tháng 3 giờ Tuất hoặc tháng 5 giờ Tý. Kình ở Mệnh hơi xấu.
    - Tuổi Tân sinh tháng 7 được Tả Khúc Khoa Khôi.
    - Tuổi Nhâm sinh tháng 7, được Xương Tả, thêm Quyền ở Mệnh, Khoa ở Quan.
    6) Kết luận:
    Tử vi cư ngọ là một cách dễ đoán nhất. Người có cách này tướng mạo đôn hậu. Tính tình hào sảng liêm khiết. Khảo trong lịch sử thấy cách này thường là Tể tướng nhiều nhất. Vì bản chất trung hậu, ít khôn ngoan sắc sảo. Chỉ có 4 vị vua sáng nghiệp ở cách này. Cách làm lớn nhất vẫn là cách Nhật, Nguyệt tịnh minh hợp chiếu ngộ Tả Hữu hoặc Nhật Nguyệt đồng lâm ngộ Tả Hữu. Cách này thường là vua sáng nghiệp, quân sư, vì thông minh, đa tài đa năng.
    Những lá số có cách Tử vi cư Ngọ lấy làm kinh nghiệm.
    Đời Tống (Bộ Triệu thi minh thuyết Tử vi kinh)
    - 2 Vua sáng nghiệp.
    - 6 Vương.
    - 11 Tể tướng.
    - 14 Hầu.
    - 32 Tam công.
    - 2 Đại tướng.
    - 41 Cửu khanh.
    Đời Trần (Bộ Đông A di sự)
    - 2 Vua sáng nghiệp.
    - 4 Vương.
    - 5 Tể tướng.
    - 3 Hầu.
    - 11 Tam công.
    - 1 Đại tướng
    - 32 Cửu khanh.
    Chúng tôi sưu tầm được từ 1950 đến giờ:
    - 1 Thủ tướng.
    - 2 Phó thủ tướng.
    - 5 Bộ trưởng.
    - 12 Tổng giám đốc, Tổng cục trưởng.
    - 10 Tỉnh trưởng.
    - 14 Giám đốc, Cục trưởng.
    - 21 Bác sĩ, Thẩm phán, Giáo sư đại học.
    Trang 57-61 KHHB 75-3b-Diễm Chi
     
  2. MRGIO

    MRGIO New Member

    Tham gia ngày:
    25 Tháng tư 2012
    Bài viết:
    126
    Điểm thành tích:
    0
    Re: Ðề: Tạp chí KHHB

    [TẠP CHÍ KHHB PHÁT HÀNH NGÀY 30.01.1975]

    NỮ MINH TINH LỆ HOA – LÁ SỐ Và CUỘC ĐỜI

    Sinh năm: Ất mùi
    Ngày 16 tháng Giêng, giờ Mùi, âm nữ, Kim mệnh, Mộc Tam Cục
    (Luận đoán của Lê Thanh Thái)

    Link lá số:


    (Ghi chú của người post bài: Điểm khác biệt là theo lá số lấy trên lyso.vn, sao Đẩu quân được an tại Tật ách, còn theo hình trên Tạp chí KHHB, Đẩu Quân được an tại Nô.)

    Khái luận về Mệnh, Thân và Cục:

    Tuổi âm – Thổ lập Mệnh tại cung Mùi thuộc Thổ là tương hợp và sinh phò cho Kim mệnh. Tuy có sao Mộ ở đây là chậm về một phương diện nhưng đương số vẫn sớm nổi đanh là nhờ có Triệt phá võ sự che lấp, muộn màng của mộ, sớm hưởng sự tốt đẹp của Long Phượng, Cái, hổ, Xương, Khúc, Tướng, Ấn, Sinh, Vượng và giáp Nhật, giáp Nguyệt.

    Năm 13 tuổi chỉ vì Tiểu hạn đến Thiên Di trực giao với gốc Đại hạn đang ở Mệnh, có lưỡng Tướng hội Liêm, Sát, Ấn, Binh, Tiểu hạn có Cáo, Phụ ngộ Binh, Hình, Liêm, Sát, Lệ hoa đi học võ và sau một năm sau đã được làm huấn luyện viên tại võ đường Thiếu Lâm với thắt lưng đỏ. Nhưng đến khi gốc Đại hạn đổi vào cung Phụ Mẫu, có Hồng, Đào, Hỉ, Tấu, Mộc ngộ Lộc, Quyền phùng Thiên, Nguyệt Đức và Quan Phúc quý nhân: Lệ Hoa giã từ nghiệp võ, đi vào con đường nghệ thuật bằng bộ môn vũ dân tộc thọ giáo với vũ sư Lưu Hồng ở Maxim’s. Và tiếp theo đó là những bước may mắn dẫn dắt Lệ Hoa tiến dẫn trên nấc thang danh vọng từ vũ dân tộc ở sân khấu Maxim’s đến vũ điệu Tây phương, rồi được ban giám đốc hãng Mỹ Vân mời ký giao kèo đóng phim độc quyền cho hãng này với một số lương khá cao.

    Thân cư Phúc Đức tại Dậu thuộc Kim, là Mộc Cục bị khắc chế, tuy nhiên nhờ tính theo vòng cục, cung này là Ất Dậu thuộc Thủy (Tuyền trung Thủy) cho nên Mộc (dương liễu) của Cục vẫn được bồi dưỡng, vì loại cây này vẫn thích hợp với đất trên núi đá.

    Tuy nhiên từ trung vận trở đi, cuộc đời ảnh hưởng vào Thân và Cục. Lệ Hoa sẽ hoạt động nhiều hơn nhưng sẽ gặp nhiều khổ tâm buồn lo về tình cảm gia đình.

    Nhìn qua những cung nổi bật

    Cung Quan Lộc: Lập tại Hợi là cung cực Thủy sinh phò cho Mộc mệnh, có Tướng, Phủ phùng Lộc, Mã, Xương, Khúc, Long, Phượng, Cái Hổ, Sinh, Vượng giúp cho Lệ Hoa sớm nổi danh và gặp nhiều cơ hội may mắn trong hoạt động nghệ thuật.

    Cung Tài Bạch: Lập tại cung Mão, thuộc âm-Mộc bị Kim mệnh khắc (khắc xuất sinh tài) có Khoa, Lộc hội Tướng, Phủ, Long Phượng, Hổ, Xương Khúc, Sinh, Vượng là càng nổi danh, càng nhờ đó mà tiền bạc sẽ dồi dào. Chưa giữ được tiền vì cung này có Giải Thần ngộ Linh Tinh, từ trung vận trở đi mới giữ được vì bấy giờ bọn Linh, Phi, Tang, Khốc đã giảm khả năng phá tán.

    Cung Nô Bộc: Lập tại Tý thuộc Thủy là Kim mệnh bị triệt giảm vì sinh xuất nhưng Mộc cục lại được sinh phò. Cung này có Thiên Lương vượng địa ngộ Quyền, Lộc, Hồng, Đào, Hỉ, Tấu, Mộc và Thiên, Nguyệt, Phúc Đức hội Quan, Phúc quý nhân gặp được những người lớn tuổi có địa vị thực lòng thương mến giúp đỡ. Nên tránh những người bạn nhỏ tuổi hoặc đồng trang lứa, sẽ bị tai tiếng vì bạn thân nhất với mình gây nên bởi đố kị tài năng và sự may mắn của mình (Kiếp, Kị, Hỏa Sát hội Đẩu Quân) và trong đời Lệ Hoa khó tìm được bạn tri âm tri kỷ dám chết sống với mình, chỉ vì cung này có Cô, Quả hội Không Kiếp, Song Hao.

    Nhìn qua các Đại và Tiểu hạn

    Năm Kỷ-Dậu, 15 tuổi (1969): Tiểu hạn vào cung Quan Lộc, gốc Đại hạn ở cung Phụ Mẫu, lưu Đại hạn Thiên Di, Tiểu hạn có Tướng, Phủ ngộ Long Phượng, Cái, Hổ, Thai, Tọa, Xương, Khúc, Sinh, Vượng Tướng, Ấn, Mã, Long: Lệ Hoa nổi bật trong đám võ sinh và được trưởng môn chọn làm huấn luyện viên võ đường Thiếu Lâm.

    Năm Tân-Hợi, 17 tuổi (1971): Tiểu hạn vào cung Phúc Đức, gốc Đại hạn vẫn ở cung Phụ Mẫu, lưu Đại hạn đến Tài Bạch. Năm này có Khoa, Lộc, Mã phùng Quang, Quý, Cáo, Phụ, Diêu, Xương, Vũ, gốc Đại hạn có Lộc, Quyền ngộ Hồng, Đào, Tấu, Mộc: Lệ Hoa đổi sang địa hạt vũ dân tộc trong vũ đoàn Maxim’s, và từ vũ dân tộc đến vũ Tây Phương qua sự dìu dắt của vũ sư Lưu Hồng. Nhờ nổi danh trên sân khấu Maxim’s, Lệ Hoa được dịp tiến một bước nhảy vọt từ vũ sang lĩnh vực điện ảnh.

    Năm Giáp-Dần, 20 tuổi (1974): Tiều hạn đến cung Huynh Đệ, gốc Đại hạn vẫn ở cung Phụ Mẫu, lưu Đại hạn trùng phùng với lưu Đại hạn. Năm này có Thái Dương cư Ngọ là cách Nhật lệ trung thiên (tuy bị Triệt án ngữ, nhưng nhờ có Địa Kiếp và song Hỉ giúp cho tinh lực của Thái Dương phát huy đầy đủ). Thêm vào đó, còn có Thiên Lương vượng địa hội Quyền, Bật, Đào, Mộc, Lâm Quan. Và gốc Đại hạn có Cơ, Nguyệt vượng địa ngộ Lộc, Tấu, Hỉ phùng Thiên, Nguyệt, Phúc-Đức, Quan, Phúc quý nhân: Lệ Hoa được ban Giám Đốc hãng Mỹ Vân mời ký giao kèo độc quyền với số tiền lương cao, để giữ các vai chính trong những phim của hãng này sắp quay. Cuối năm này, các phim do Lệ Hoa đóng vai chính được tung ra trình chiếu như Quái Nữ và Vua Hề, Quái Nữ Sợ Ma, v.v…

    Tương lai Lệ Hoa trong năm Ất Mão (1975)

    Năm Ất Mão tiểu hạn đến cung Phu-Quân: Năm này vẫn trên đà danh vọng đang lên, nhưng trong lĩnh vực tình cảm sẽ gặp chuyện rất khổ tâm, vì Vũ, Phá hội Tang, Điếu, Hình, Diêu, Phi, Khốc, Phục.

    Tháng Giêng, đừng dính líu vấn đề tình cảm, sẽ gây nhiều rắc rối. Tháng 2, thuận lợi về hoạt động nghệ thuật, đi xa tốt. Tháng 3, phòng miệng tiếng thị phi. Tháng 4, khổ tâm về tình cảm. Tháng 5, coi chừng lầm lạc về tình cảm. Tháng 6, coi chừng những người thân yêu nhất của mình làm cho mình khổ. Tháng 7, rắc rối giữa tình cảm riêng và gia đình. Tháng 8, một sự tan vỡ tình cảm là cho khổ tâm nhưng gia đình vui vẻ. Tháng 9 tiền bạc dồi dào. Tháng 10, coi chừng đau ốm, mất trộm. Tháng 11 có sự di chuyển tốt đẹp. Tháng Chạp, một cái Tết vui bề ngoài mà tâm hồn rất nặng nề.
     
  3. MRGIO

    MRGIO New Member

    Tham gia ngày:
    25 Tháng tư 2012
    Bài viết:
    126
    Điểm thành tích:
    0
    Re: Ðề: Tạp chí KHHB

    [TẠP CHÍ KHHB PHÁT HÀNH NGàY 30.01.1975]

    ĐÀN ÔNG SỢ VỢ GẶP NHỮNG CÁCH NÀO TRONG TỬ VI?
    (Phong Nguyên)

    (Ghi chú của người post bài: Thông tin được bôi màu xanh lam không có trong báo, nhưng có trong phần copy được trên mạng, có thể do người viết đã tìm hiểu và bổ xung nên xin giữ nguyên để mọi người tham khảo)

    Trong cuộc sống hàng ngày có thể nói vấn đề “sợ vợ” thường được đề cập tới, bất luận đối với giới nào. Vì vậy, trong lĩnh vực tử-vi, tôi cũng muốn nêu vấn đề này ra và mong sẽ ”mua vui” được cho quý bạn trong dịp tất niên, đồng thời tôi cũng xin cáo lỗi trước với bạn nào tình cờ nằm trong trường hợp điển hình mà tôi nêu ra dưới đây, vì sự trùng hợp rất dễ xảy ra trên phương diện lý thuyết tử-vi.

    Tôi còn nhớ hồi mới học Tử-Vi, mỗi khi ông này, ông nọ hỏi tôi xem lá số có biết nổi thế nào là người chồng sợ vợ hay không ?, thì tôi chỉ cần vài giây đồng hồ là khẳng định liền, một cách rất ư là tự tin, vì tôi cho rằng khía cạnh đó dễ ợt, cứ việc xem cung Thê có Hóa Quyền hoặc Tướng Ấn hay không hoặc “Thân” có cư Thê và có Thái âm tọa thủ hay không .v.v.v. Thật là đơn giản và rõ rệt như hai với hai là bốn. Và khổ một nỗi là rất nhiều lần trúng, nên tôi càng hãnh diện về sự hiểu biết tử-vi của mình, nhưng đôi ba lần bị sai trật hẳn mặc dầu giờ sinh trúng thì đâm ra ấm ức chẳng biết giải thích làm sao. Về sau tôi có gặp được vài vị cao thâm tử-vi chỉ dẫn khá kỹ càng về khía cạnh đoán “sợ vợ”, khiến cho tôi như bừng tình giấc mơ và cảm thấy hổ thẹn về khả năng tử-vi của mình. Bây giờ tôi xin cố gắng tổng hợp lại những điều đã học được cùng những kinh nghiệm riêng của tôi, để giúp quý bạn có một ý niệm chính xác hơn về vấn đề nêu trên, và tôi tạm chia bài này làm hai phần:

    1- CUNG MỆNH Và CUNG THÊ TƯƠNG ĐỒNG

    Trước hết tôi cần phải nói rằng, bao giờ ta cũng phải so sánh thật kỹ lưỡng và tỉ mỉ hai cung Mệnh và Thê, chứ không thể xét đơn thuần một cung Thê để xem có sự chênh lệch hay tương đồng. Trong mục này tôi bàn riêng về hai cung tương đồng, phần hai dành cho trường hợp hai cung chênh lệch.

    Chắc quý bạn thắc mắc không biết làm sao phân biệt được tương đồng hay không vì các yếu tố tử-vi rất uyển chuyển chứ đâu có rõ rệt và cố định. Thực ra điểm này rất tương đối, nghĩa là quý bạn cứ tạm cho các sao cùng một nhóm đều tương đương với nhau hoặc nhóm này tương đương với nhóm khác. Tỷ dụ như Nhóm Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương cùng có một “năng lực” như nhau hoặc nhóm Cự Nhật có thể sánh với Phủ Tướng .v.v.. Trường hợp cung Mệnh và cung Thê cùng Vô chính diệu thì các trung tinh và bàng tinh sẽ đóng vai trò chủ yếu mặc dầu chính tinh của cung xung chiếu vẫn gây ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp. Tỷ dụ như một cung có Khôi Việt, còn cung kia có Hóa Khoa, Thai Tọa thì tạm coi là tương đồng.

    Khi nhận định được yếu tố tương đồng rồi ắt là ta có khái niệm về “cán cân lực lượng” của đôi bên nhưng đừng vội cho như thế là hai vợ chồng chẳng ai bắt nạt được ai vì còn cần xét thêm như sau :

    – Nếu “hành” bản mạng (của chồng) tương hòa với chính tinh tại cung Thê thì không có sự lấn át với nhau, nhưng nếu khắc chính tinh hoặc được “hành” của chính tinh sinh thì người chồng trội hơn vợ. Còn trường hợp sinh chính tinh thì chồng phải “o bế” vợ khiến cho vợ làm tàng, nhưng không thua thiệt bằng trường hợp chính tinh khắc bản mạng.

    – Sau khi xét đến “hành” sinh khắc phải để ý xem cung nào (Mệnh hoặc Thê) có nhiều sao phú và quyền quý hơn, nhất là khi các cung này vô chính diệu. Tỷ dụ như Mệnh có Tử-Sát hội Hóa Khoa trong khi cung Thê có Phủ Tướng (tức là tương đương với Tử-Sát) mà lại thêm Song Lộc, Long Phượng, Thai, Tọa thì người vợ cao sang, giàu có hơn chồng, hoặc xuất thân từ một gia đình quyền qúy hơn gia đình nhà chồng, như thế là có yếu tố lấn áp chồng. Đấy là tôi chưa kể đến sao Hóa Quyền là sao biểu lộ rõ rệt sự đàn áp (thuộc phần 2 bàn về sự chênh lệch mạnh mẽ mà tôi sẽ nói sau).

    – Sau nữa phải lưu ý đến các sao tháo vát, thông minh, lanh lẹ dồn vào cung nào. Tỷ dụ như Khôi Việt, Xương, Khúc, Quang, Quý, Hồng, Hỷ đều hội chiếu vào cung Thê thì cung Mệnh phải chịu lép, dù cho chính tinh của hai cung tương đồng.

    – Sau hết ta còn phải phối hợp với Đại hạn. Sở dĩ không xét đến Tiểu hạn là vì một năm chưa đủ để thay đổi phong độ của một người, chẳng lẽ năm trước ta đang sợ vợ mà năm sau lại dám bắt nạt vợ hay sao ? Còn Đại hạn 10 năm là một giai đoạn có thể làm đảo lộn từ thể chất tinh thần một người. Do đó ta mới cần kết hợp với Đại hạn thật tốt và thật phù hợp với Mệnh tức là đời người đó “lên hương” mạnh khiến cho vợ phải kiêng nể, kính mến, nhưng nếu Đại hạn tuy tốt mà không phù hợp với mệnh lại “ăn khớp” với cung Thê thì đó là môi trường thuận lợi cho vợ lên mặt.

    Ví dụ: Mệnh có Cự Nhật và cung Thê có Đồng âm mà gặp Đại hạn có Cơ Lương (Thìn-Tuất) hội Quyền Lộc thì chỉ lợi cho Thê vì Cơ Lương ưa nhóm Đồng âm hơn Cự Nhật và kéo theo cả Quyền Lộc. Do đó Đại hạn tuy tốt mà không phù hợp với Mệnh, thành ra vợ có cơ hội trội hơn chồng.

    Qua những điểm phân tích trên đây, quý bạn hẳn nhận thấy rằng có nhiều người chẳng thấy gì là sợ vợ qua lá số của họ mà trên thực tế họ đúng là hạng “râu quặp”, đó chẳng qua là quý bạn không cân nhắc kỹ lưỡng mà thôi. Và ngay cả khi quý bạn kết hợp tỷ mỉ nhưng máy móc quá; cũng vấn có thể sai lầm. Ví dụ như khi thấy cung Thê có chính tinh tương đồng với cung Mệnh mà lại hội nhiều sao quyền quý, nếu bạn kết luận ngay là chồng sợ vợ cũng có trường hợp chẳng đúng; vì nếu có thêm các sao hiền thục như Tràng Sinh, Đế Vượng, Quan Phúc thì chừng đó người vợ tuy cao sang, quyền quý nhưng nhất mực phục tòng chồng, chẳng khi nào dám khinh khi chồng. Cái khó khăn là ở chỗ thêm bớt, kết hợp cho tinh vi và uyển chuyển.

    Tuy nhiên, nói chung khi trúng vào mục 1 này, qúy bạn có thể nắm được yếu tố tiên khởi là không có sự lấn áp mạnh mẽ giữa hai bên. Do đó, sau khi “gia giảm” theo các tiêu chí mà tôi đã nêu ra ở trên , qúy bạn có thể kết luận là khía cạnh “sợ vợ” ngược lại chỉ là “nể nang” mà thôi nếu có thêm yếu tố chứng minh liên hệ.


    2- CUNG MỆNH Và CUNG THÊ CHÊNH LỆCH

    Phần này mới đích thực là phần quan trọng vì vấn đề sợ vợ hay không ? sẽ nổi bật trong lá số, nhưng chính cũng vì thế mới dễ lầm và khó đoán. Tôi không muốn nói là luôn luôn phải đoán trái ngược lại, nhưng ta phải cận thận vì có trường hợp không ứng nghiệm chút nào. Về phần nguyên tắc cũng tương tự như phần 1, nhưng về phần thực hành khó hơn nhiều. Do đó tôi thấy cần đưa ra nhiều ví dụ điển hình để quý bạn giải đoán linh động và uyển chuyển hơn.

    – Nếu bình thường Mệnh có Thiên Phủ gặp Tuần Triệt án ngữ mà cung Thê có Liêm Phá chẳng hạn thì phải nói rằng sự chênh lệch qúa rõ ràng, vì Thiên Phủ hiền lành bao nhiêu thì Liêm Phá dữ dằn bấy nhiêu. Do đó khi không có yếu tố gì khác chế hóa ta có thể kết luận là chồng sợ vợ tuyệt đối, chẳng cần có Hóa Quyền hay Tướng Ấn cư Thê. Nhưng nếu trong trường hợp này, Mệnh không bị Tuần Triệt án ngữ và lại có thêm Hóa Khoa, Xương Khúc, Tả, Hữu, Thai, Tọa, Song Lộc, Đào Hồng thì đừng vội kết tội người chồng sợ vợ, vì khi ấy người chồng hội đủ mọi “phương tiện” để bắt vợ vào khuôn phép một cách rất tinh vi, khoa học và tế nhị. Người vợ khi đó trái lại chỉ hùng hục làm việc tay chân cả ngày để phục vụ chồng vì Liêm-Phá đã chuyển hướng từ miệng la hét qua làm lụng bằng chân tay. Trường hợp này nếu cung Thê có thêm Tướng Ấn cũng chẳng sao, có khi còn tăng thêm hiệu lực quán xuyến nội trợ, để cho chồng được hưởng thụ mà thôi. Vì dù sao Thiên phủ cũng chủ về bề thế, thanh nhàn và hưởng thụ.

    – Nếu Mệnh vô chính diệu (thường bị coi là yếu mềm nhu nhươc) và cung Thê có Tử-Sát chẳng hạn, lại hội thêm Tướng-Ấn, Hóa Khoa, Long Phượng, Hổ, Cái, Quang, Qúy, Lộc, Mã ai thấy mà chẳng đoán là vợ nắm quyền hoàn toàn, thế mà vẫn có trường hợp không ứng nghiệm; là vì khi cung Mệnh có Tang Hổ, Tả Hữu, Thai Tọa, Thanh Long, Mộc Dục chẳng hạn, thì cung Thê khi đó gần như bị vô hiệu hóa về khía cạnh bắt nạt chồng. Tại sao vậy ?. Vì các sao Tang Hổ tuy chỉ là sao ưu tư phiền muộn theo nghĩa bình thường nhưng thực ra cũng chủ về uy lực tiềm tàng hoặc gián tiếp, chủ về óc cách mạng (canh tân, đổi mới …), quật cường, như thế đâu có chịu nhục nhã, kiềm chế. Thêm vào đó có bộ Thai Tọa còn chủ về tư cách, bề thế, chững chạc đâu có để cho tự ái bị va chạm mạnh mẽ. Ngoài ra, Thai Tọa còn chủ về thích an nhàn nên thường cho vợ quán xuyến mọi việc (ứng vào Tướng-Ấn) để mình lo việc khác có tính cách “đàn ông” hơn. Còn Thanh-Long hội Tả Hữu chủ về ăn nói khéo léo, lý luận vững vàng tháo vát xoay xở thì làm gì mà không thuyết phục nổi vợ khi vợ muốn lấn áp, nhất là khi có sao Mộc Dục hội với sao Thanh Long là cách “thừa vạn phái dĩ thanh quang” (nghĩa là có tiếng thơm) chứng tỏ được người đời thán phục, hàng xóm làng giềng khen ngợi, như thế không có lẽ lại “râu quặp” để mang tai mang tiếng nhục nhã ?. Do đó bao nhiêu cái trội ở cung Thê chỉ là để phục vụ đắc lực cho chồng hưởng thụ thanh nhàn; nếu đôi khi những sao “hách” muốn hoạt động thì chừng đó người vợ chỉ lộ ra với người khác mà thôi.

    – Thường thường ai cũng ngán cung Thê có Hóa Quyền, Tướng Ấn, Kình hoặc Đà vì như thế dễ bị vợ sai khiến, áp đảo dễ dàng, nhưng yếu tố này này cũng chưa hẳn tuyệt đối nếu cung Mệnh có những yếu tố chi phối nổi các sao đó, tỷ dụ như có Liêm Sát hội Khôi Việt, Tả Hữu, Thanh Long, Song Lộc thì những sao trên sẽ phục tùng hoàn toàn. Nhưng trong trường hợp này còn phải dựa thêm vào Đại hạn tốt cho cung Mệnh (như đã bàn ở phần 1) thì mới chắc ăn vì cung Thê có “lực lượng” quá hùng hậu không dễ gì áp đảo được mạnh mẽ.

    – Trong một vài sách Tử-Vi có nêu ra trường hợp “Thân” cư Thê có Thái âm tọa thủ là sợ vợ. Nếu cứ áp dụng như thế rất dễ bị sai lầm vì tôi có xem nhiều lá số có trường hợp đó mà chẳng hề sợ vợ chút nào, trái lại còn được vợ chiều chuộng hết mình. Sở dĩ “công thức” trên không ứng nghiệm vì có những yếu tố khác chế hóa mạnh mẽ : Bình thường “Thân” cư Thê tức là phải nương nhờ vợ, nhất là khi có Thái âm tọa thủ (vì sao này chủ về vợ mà đóng đúng tại cung Thê thì không khác gì cá gặp nước, rồng gặp mây tha hồ thao túng, hoạt động), nhưng khi cung Thê có Quan, Phúc, Tràng Sinh, Đế Vượng, bộ Tứ Đức, Long Phượng, Quang Quý … thì người vợ khi đó nai lưng ra mà phục vụ chồng, yêu thương chồng, còn người chồng chỉ vui chơi suốt ngày, chẳng phải quan tâm đến chuyện sinh kế hằng ngày, nhất là khi cung Mệnh có những sao thành nhàn bề thế (như Thai Tọa, Hỷ Thần, Phong Cáo, Thai Phụ …) và cung Phúc Đức tốt có yếu tố thụ hưởng (như Lộc Tồn, Hóa Lộc, Thanh Long … ). Rất có thể trước nhãn quan của thiên hạ người chồng trong trường hợp này bị coi là nhu nhược, hèn hạ vì ăn bám vợ nhưng thực sự thì không có vấn đề “sợ vợ”. Lẽ dĩ nhiên nếu cung Mệnh và Phúc đều xấu và cung Thê lại thêm Hóa Quyền, Kình, Đà chẳng hạn thì khi đó người chồng thực là bất hạnh vì hoàn toàn nô lệ vợ, có khi bị vợ coi như kẻ ăn người ở ….

    – Những thí dụ trên đây cho thấy có yếu tố sợ vợ mà vẫn không ứng nghiệm vì đó là yếu tố “nổi” đã bị yếu tố “chìm” làm mất hiệu lực. Ngược lại cũng vậy, nhiều khi thấy cung Mệnh mạnh hơn cung Thê gấp bội mà vẫn chịu thua vợ. Tỷ dụ như Mệnh có Liêm-Tham (Tị hoặc Hợi) hội Hóa Quyền mà cung Thê có Thiên Phủ gặp Tuần thì đúng là chồng bắt nạt vợ tuyệt đối, nhưng khi cung Thê không bị Tuần án ngữ thì Thiên Phủ lấy lại được năng lực bình thường của một chính tinh “đầu đàn” đủ sức làm cho Liêm-Tham nể vì, nhất là khi có thêm Tả, Hữu, Xương, Khúc, Quang, Quý, Hình, Hổ, Song Lộc thì người chồng khó lòng mặt được, nếu có tức khí la hét được vài tiếng thì cũng chùn bước trước cách cư xử và thái độ khéo léo, tế nhị nhưng đầy uy nghi của người vợ. Thực tế, nếu quý bạn xét kỹ lưỡng các sao phụ trên thì thấy nguyên Song Lộc (cách của Lã Hậu) (Lã Hậu sinh năm Giáp Dần ngày 7 tháng 3 giờ Dần) cũng đủ quyền hành áp đảo người chồng, huống chi lại có thêm Tả Hữu, Xương Khúc, Quang Qúy là các sao khôn khéo, bặt thiệp cộng thêm Hình Hổ là các sao tăng cường hiệu lực của lời nói cũng như hành động, trong khi đó Liêm-Tham của của chồng chủ về “hữu dõng vô mưu” đâu có đủ sâu sắc mà đương đầu lại nổi.

    Về phần hai này, nói chung phải luôn chấp nhận rằng ít khi có trường hợp ứng nghiệm trái ngược. Do đó qúy bạn cần hiểu là những thí dụ tôi nêu ra trên đây đều là ngoại lệ, và tôi mong qúy bạn không có người nào gặp trường hợp cung Thê hoặc cung Phu qúa trội để khỏi phải mất công tìm kiếm những yếu tố khác chế hóa đi.

    Tôi ước mong bài trên đây có thể giúp được quý bạn phái nam nhận ra được phần nào năng lực của mình đối với người bạn đời để liệu cách “đối phó” hoặc điều chỉnh cách sống làm sao cho gia đình được êm ấm thuận hòa. Còn đối với quý bạn phái nữ, tôi chắc quý bạn sẽ sáng suốt hơn khi nhận định về người chồng của mình và sẽ không tìm cách bắt nạt hoặc lấn quyền một cách bừa bãi và mù quáng để hạnh phúc lứa đôi khỏi bị xáo trộn./.
     
  4. MRGIO

    MRGIO New Member

    Tham gia ngày:
    25 Tháng tư 2012
    Bài viết:
    126
    Điểm thành tích:
    0
    Re: Ðề: Tạp chí KHHB

    HẠN TAM TAI
    (Kinh nghiệm của cụ Thiên Lương_Trần Việt Sơn thuật)

    Mỗi tuổi, mỗi người có 3 năm (trong một loạt 12 năm) gặp hạn Tam Tai. Các hạn có nhiều thứ, nhưng người mà cung Mệnh thuộc những chÍnh tinh nào đó, khi đến hạn gặp những hung tinh phá là gặp hạn xấu. Tuy nhiên, không cứ gặp hạn xấu là bị xấu, mà gặp những sao giải, thì lại không bị xấu nữa. Cho nên, khi nêu lên hạn Tam Tai, không phải cứ đến hạn là gặp xấu, mà còn phải xét xem những cái xấu có bị giải đi hay không.

    Cách tÍnh những năm gặp hạn Tam Tai:
    Những tuổi Thân, Tý, Thìn: hạn Tam Tai vào các năm Dần, Mão, Thìn.
    Những tuổi Tỵ, Dậu, Sửu: hạn Tam Tai vào các năm Hợi, Tý, Sửu
    Những tuổi Dần, Ngọ, Tuất: hạn Tam Tai vào các năm Thân, Dậu, Tuất
    Những tuổi Hợi, Mão, Mùi: hạn Tam Tai vào các năm Tị, Ngọ, Mùi

    Để cho dễ nhớ những năm gặp hạn Tam Tai cho mỗi tuổi, quý bạn chỉ cần nhớ các bộ tam hợp, và phải nhớ cho đúng thứ tự trong mỗi bộ ba (thứ tự đó rất quan trọng). Thế rồi rồi quý bạn trở về các cung địa bàn trên lá số, và cứ lấ ba cung vừa theo chiều thuận đi tới cung cuối của bộ Tam hợp, đó là ba cung mà tên ứng với các năm gặp hạn Tam Tai (không tÍnh trên các cung địa bàn, thì tÍnh trên các đốt ngón tay cũng được).

    Tuổi Thân, Tý, Thìn.
    Bộ ba Thân, Tý, Thìn: bạn ghi lấy ba cung ngay trước cung Thìn, và ôm cả cung Thìn, đó là ba cung Dần, Mão, Thìn. Vậy ba năm Dần, Mão, Thìn là ba năm gặp hạn Tam Tai của các tuổi Thân, Tý, Thìn. Trong các năm Dần, Mão, Thìn, các tuổi Thân, Tý, Thìn gặp hạn Tam Tai.


    Tuổi Tỵ, Dậu, Sửu
    Bộ ba Tỵ, Dậu, Sửu: cung chót của bộ ba tam hợp là Sửu, vậy bạn ghi lấy ba cung liền trước cung Sửu và kể luôn cả Sửu đó là ba cung Hợi, Tý, Sửu. Ba năm Hợi, Tý, Sửu là ba năm hạn Tam Tai của các tuổi Tỵ, Dậu, Sửu.


    Tuổi Dần, Ngọ, Tuất
    Cung chót của bộ tam hợp đó là Tuất. Ba cung liền trước Tuất và kể cả Tuất, là Thân, Dậu, Tuất. Thân-Dậu-Tuất là ba năm gặp hạn Tam Tai của các tuổi Dần, Ngọ, Tuất.


    Tuổi Hợi, Mão, Mùi
    Ba cung chốt liền trước Mùi, và kể cả Mùi, là Tị, Ngọ, Mùi. Tị-Ngọ-Mùi là ba năm gặp hạn Tam Tai của các tuổi Hợi, Mão, Mùi.



    Gặp hạn Tam Tai là thế nào?
    Không phải Tam Tai là ba loại tai nạn trong kinh Phật. Nói gọi gặp hạn Tam Tai là làm ăn thất bại, hoặc nhẹ ra thì làm ăn khó khăn. Sự làm ăn khó khăn hay thất bại bao gồm đủ các yếu tố làm cho thất bại, có thể ốm đau mà sanh thất bại.
    (Chúng tôi đã được dự kiến cụ Thiên Lương xem lá số cho một ông và bảo là làm ăn khó khăn hoặc thất bại. Ống đó thởi phào một cái và nói: Tôi coi số đã nhiều mà có những người bảo tôi làm ăn năm đó tấn phát bởi vì đại vận, tiểu vận đều tốt cả; tôi đã dốc tiền ra làm ăn mà rồi mất cả, đến bây giờ mới thấy một cụ bảo rằng tôi làm ăn thất bại vào năm đó. Tôi tiếc không được gặp cụ sớm. Nhưng tại sao cụ lại bảo rằng năm đó tôi làm ăn thất bại?. Cụ Thiên Lương đã phân tÍch hạn Tam Tai mà ông nọ gặp. Tuy là vận tốt, nhưng gặp hạn Tam Tai thì cũng có giảm. Huống chi vận của ông chỉ tốt vừa phải, hoặc trung bình, thì hạn Tam Tai nó gây cho ông nhiều khó khăn).
     
  5. MRGIO

    MRGIO New Member

    Tham gia ngày:
    25 Tháng tư 2012
    Bài viết:
    126
    Điểm thành tích:
    0
    Re: Ðề: Tạp chí KHHB

    [TẠP CHÍ KHHB PHÁT HÀNH NGÀY 11.01.1975 và 30.01.1975]


    VÒNG THÁI TUẾ CHI PHỐI MỆNH, THÂN
    QUA CÁC CUNG NHỊ HỢP, TAM HỢP Và XUNG CHIẾU

    (Vi Nhật)

    (Ghi chú của người post bài: Thông tin được bôi màu xanh lam không có trong báo, nhưng có trong phần copy được trên mạng, có thể do người viết đã tìm hiểu và bổ sung nên xin giữ nguyên để mọi người tham khảo)

    Phải công nhận từ lúc các diễn đàn KHHB "Xuất hiện" cho tới nay, số người coi Tử-vi "Amateur" đã lên rất cao và hiện tại cao trào nghiên cứu Tử-vi lan tràn khắp nơi. Chúng ta đã thấy có vài Hội Tử-Vi thành hình giữa các giới trẻ và đặc biệt hơn cả là những "tay" đam mê nhất lại là những "tay" khoa bảng. Họ đã cố tìm tòi, học hỏi nghiên cứu, để rút tỉa kinh nghiệm, mong tìm lại những gì đã mất mát, nói đúng hơn là đã thất truyền. Trong chiều hướng đó, có người lại cổ xúy phong trào Việt hóa và hệ thống hóa toàn diện khoa Tử-vi theo khoa học hiện đại.

    Trước tiên, ta cần ghi nhận là Tử-vi được hình thành trong cơ cấu của Dịch Lý; qua hai động lực căn bản : âm Dương và Ngũ Hành. Do đó cần tìm về nguồn qua tương quan Lý Học, để từ đó có thể dò dẫm ra bước đường sáng tạo của cổ nhân

    – Sau khi nguồn căn bản đã có, việc kế tiếp cần nêu lên cho chúng ta là phải giản dị hóa khi áp dụng một các trực tiếp từ Dịch Học sang khoa Tử-vi. Muốn vậy ta không thể quá lệ thuộc vào những câu Phú, để rồi nhiều khi mâu thuẫn nhau, vào những lối giải đoán qúa phức tạp. Nói một cách khác, chúng ta phải dựa vào các ngành học hiện đại vì chúng có tính cách khoa học hơn, để diễn đạt ngôn từ, sự việc hơn.

    Hai giải pháp này đòi hỏi chúng ta phải xây dựng một kiến trúc từ nền tảng theo từng điểm một. Đây không phải là một việc một sớm một chiều có thể vạch ra một lúc, mà phải là trong trường kỳ và liên tục. Nó cũng không phải là của một cá nhân, mà phải là sự hợp tác của nhiều khối óc, nhiều bàn tay. Một tiếng chuông đã đánh lên, cần nhiều tiếng chuông khác phụ lực để vun bồi cho khoa Tử-vi mỗi ngày một chính xác hơn trong tinh thần huyền bí của nó. Đạt được như vậy, chúng ta vẫn duy trì tính cách Triết-Lý Đông-Phương mà vẫn không kém phần gãy gọn khi phô diễn ngôn từ.

    Đề cập tới vấn đề này, tức là kẻ viết bài này đã gián tiếp hướng về giải thích khoa Tử Vi theo một quan niệm trung dung nêu trên, gọi là một tiếng chuông tiếp nối công trình của các bậc đàn anh đã làm.

    Trong phạm vi đề tài này, tôi xin khai triển tiếp nối kinh nghiệm của cụ Thiên Lương về vòng Thái-Tuế, dưới một nhãn quan dị biệt.
    Một cách khách quan, chúng ta thử nhìn trên những dữ kiện thực tế, và những trường hợp thành bại điển hình quanh ta. Càng cụ thể hơn nữa chúng ta thu hẹp nhãn quan vào chính bản thân mình, gia đình mình. Chúng ta sẽ thấy những yếu tố cấu tạo sự thành bại, luôn luôn bao gồm trong mỗi tương quan tính tình, đưa đến một lối xử thế tế nhị khôn khéo hoặc lỗ mãng, bốc đồng. Và từ đó, dĩ nhiên là trong cuộc sống hằng ngày, sự chung đụng giữa những mối tương quan từng cá nhân trong xã hội, chưa kể liên hệ gia đình, từ bạn bè, người trên kẻ dưới, cho tới hoàn cảnh trở lực, hàng xóm … sẽ tạo ra biết bao hậu quả ít nhiều quan trọng đến đời sống của ta. Hẳn chúng ta cũng thấy nhiều người chỉ với ba tấc lưỡi Tô-Tần mà được cất nhắc lên tột bực, có người khác luôn luôn được bè bạn giúp đỡ. Ngược lại, có người lại bị đè ép không cho vươn lên, có người lại vô phúc hơn thường bị đàn em lường gạt hoặc qua mặt mình … Và trong phạm vi thu hẹp hơn là trong mái ấm gia đình, có người được sự đùm bọc, thương yêu, lại được anh em nể trọng, và ngược lại cũng có người phải hy sinh gánh vác việc trong gia đình.

    Tất cả mối tương quan xã hội gia tộc đều xếp đặt một cách hợp lý qua các cung số quanh cung Mệnh. Từ nhỏ môi trường sinh hoạt còn đâu ngoài gia đình với cung Phụ Mẫu và cung Huynh Đệ (Bào) cho tới khi vào đời là chịu những mối tương quan phức tạp hơn được biểu tượng qua các cung số : Phối (Thê Thiếp hoặc Phu Quân), Nô Bộc, Thiên Di, Tử Tức … Những mối tương quan này được cô đọng trong một trạng thái từ Tĩnh cho đến Động; "Tĩnh" khi mang tính chất cá biệt của nội tâm người. Nhưng khi cá tính ấy bộc lộ qua hành động nó lại tạo ra một thế "Động" làm "Then chuyền" chuyển động những trạng thái của người xung quanh, ảnh hưởng đối với người ấy.

    Chúng ta đã phác họa qua về sự quan trọng của tính tình học, thu gọn trong khoa Tâm Lý Học, trong mức sống cao thấp của một con người. Thực vậy, để diễn tả trong một phạm vi nêu trên cho linh động hơn, tiền nhân đã gán cho mỗi cá tính "một ông sao" tùy theo ý nghĩa của từ ngữ sao đó hoặc lối Ngũ Hành âm Dương, lối chiết tự. Mỗi "ông sao" thực ra là một dụng cụ phối trí của tương quan lý học, để diễn tả vị thế con người là một "Tiểu Thiên Địa" có đủ cơ cấu âm-Dương Ngũ Hành trong một vũ trụ bao la vô tận.

    Vận mệnh Trời được được phối trí qua người Cha và người Mẹ để tạo nên cái TA, trong môi trường Gia tộc và Xã hội. Thành tố Gia tộc bao gồm thêm 3 yếu tố : Cha-Mẹ-TA, được biểu tượng qua Thiên Can, Địa Chi, và nạp âm Can, Chi ra bản Mệnh (TA). Thành tố xã hội rồi bao quát chi phối Mệnh qua trạng thái của cuộc đời, qua vai trò của Cục (tức cuộc, tức cuộc đời). Nắm được hai thành tố với 4 yếu tố trên qua sắc thái: Can tuổi, Chi tuổi, bản Mệnh và Cục là ta có thể giải đoán toàn bộ cuộc đời, có thể xuống tới các Đại-Hạn.

    Trở lại vấn đề, ta thấy cha cho hình hài, mẹ nuôi dưỡng cưu mang lâu dài. Người cha, theo quan niệm xưa, đi tìm sinh kế lo no ấm cho gia đình (vì thế được biểu tượng qua vòng Thiên Can, tức vòng Lộc-Tồn). Trong khi ấy, người mẹ lãnh một vai trò "khiêm tốn" hơn đối với xã hội, nhưng trong gia đình người mẹ nổi bật lên, đôi lúc còn lấn át cả người cha. Đó trách nhiệm tinh thần, giáo huấn con cái, đào tạo cho thành người hữu dụng trong gia đình, trong xã hội. Tiền nhân ta cũng đã sớm ý thức các điều này và đã để lại nhiều câu tục ngữ nói lên thực trạng này:
    Nào là : "Con không cha như nhà không nóc";
    Hoặc : "Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà".
    Như vậy vai trò người cha, tượng trưng qua Thiên-Can mà căn bản là vòng Lộc-Tồn với ý nghĩa Phúc, Họa đi đôi với vật chất tiền tài. Đối nghịch là vai trò người mẹ qua Địa-Chi mà trọng tâm là vòng Thái-Tuế, mang cá tính của người con với các điểm liên hệ về tính tình, về tinh thần.

    Tương quan tâm lý học được chứng giải qua vòng Thái-Tuế. Nhưng trong mối liên hệ này có những ràng buộc nào từ gia đình cho tới xã hội ? Một cách đại cương, chúng ta có thể vạch ra vài nét chính :

    – Cung Bào và cung Phụ Mẫu: Là mối dây liên hệ huyết thống chặt chẽ đầu tiên của mọi người, mà ai cũng phải có từ nhỏ cho tới khi khôn lớn. Qua vị trí cố định lần lượt của 12 cung số thì Mệnh luôn được xếp ở giữa hai cung Bào và Phụ Mẫu, nói cách khác hai cung này giáp biên của Mệnh.

    – Cung Nhị Hợp: Là lân phương là kế cận, hàng xóm của bản cung nói chung và của Mệnh nói riêng. ý nghĩa cung Nhị Hợp cũng không kém phần trọng yếu. Nó nói lên mặt trái của vấn đề. Nó là bên trong, là sự tiềm ẩn là cứu cánh của sự việc, là cái khuynh hướng (tendance) tiến đến sự việc liên hệ cung số Nhị-Hợp.

    – Cung Tam Hợp: Là trạng thái vào đời, có gặp được may mắn không, tùy thế của chiều đi âm Dương hoặc tùy chiều sinh của hai cung Tam-Hợp so với bản cung. Để giản lược, ở đây trong Tam Hợp Mệnh, Tài, Quan, ta biết trạng thái thực tại của ta khi vào đời và được ưu đãi về phương diện nào: Tài hay Quan ?.

    – Cung Chính Chiếu: Không nên quan niệm cung Chính Chiếu (Thiên Di) là đối phương của mình một cách đơn thuần như vậy; mà nên nới rộng phạm vi để quan niệm đó là hoàn cảnh gây nên cho mỗi số phần, nếu có thì mức độ trở ngại ấy có thể vượt qua hay không ?

    Chúng ta sẽ lần lượt xét các mối tương quan xã hội, gia tộc qua sự phân tích ảnh hưởng của tâm lý vào cuộc đời với các dụng cụ sử dụng là các cung số :
    Tương quan vòng Thái-Tuế qua cung Mệnh, cung Nhị Hợp và cung Xung chiếu.
    Tương quan vòng Thái-Tuế qua cung Thân, cung Nhị Hợp và cung Xung chiếu.
    Tam hợp Mệnh Tài Quan phối hợp qua vòng Thái-Tuế.
    I/ TƯƠNG QUAN MỆNH, NHỊ HỢP, XUNG CHIẾU

    Để bàn về phạm vi này, cần đề cập tới mối liên hệ biểu kiến và nội tại cũng như xét qua lại vòng Thái Tuế ứng dụng vào sự tìm hiểu mặt trái ở đời so với cung Nhị-Hợp, cung Chính chiếu. Ngoài ra để dễ áp dụng hơn, tôi xin đan cử vài thí dụ điển hình.

    A- TíNH TìNH BIỂU KIẾN Và NỘI TẠI

    Không phải ai cũng "ruột liền da", "da liền ruột", mà trái lại phần lớn chúng ta lại gặp nhiều hạng người như ruột gà. Nói rõ ra là, tính tình mà chúng ta nhận thấy ở họ qua sự biểu lộ hằng ngày, không hẳn là đích thực tình trạng bên trong của họ. Đó cũng là một hiện tượng ý nghĩ tương phản với lời nói. Hai trạng thái hướng ngoại biểu hay Biểu kiến (Apparence) và Nội Tại (Interieur), sẽ được phơi trần ra trước ánh sáng của Vòng Thái Tuế và cung Nhị Hợp, Chính chiếu. Nhờ vậy, cũng cùng một lời nói ta có thể phân biệt hai hạng người : "Khẩu Phật Tâm Xà" hoặc "Khẩu Xà Tâm Phật".

    1- Biểu kiến (Apparence)
    Qua Vòng Thái Tuế ở cung Mệnh, cá tính một người hiện ra một cách ngoại biểu đối với người coi số cũng như trên thực tế mọi người cũng nhận ra cá tính thường nhật của người ấy. Ngoài ra, Vòng Thái Tuế còn có tác dụng mang lại thêm các dữ kiện mới khi nó phối hợp với cung chính chiếu. Thực vậy thế Tam-Hợp của bản cung khi so sánh với thế Tam-Hợp của đối cung, cho ta nhận rõ ra tinh thần một người có lạc quan hay bi quan trước cuộc sống, trước hoàn cảnh ở đời.

    Trong bản số của Vua Quang Trung Đại Đế, Vòng Thái Tuế đã chứng giải tinh thần tự tôn của ngài tự coi mình có trách nhiệm "Thế Thiên Hành Đạo" đem lại an bình cho đất nước, đánh đuổi ngoại xâm (Thái Tuế đóng ở Mệnh). Ngoài ra thái độ dũng mãnh, xem thường đối phương cũng như bách chiến bách thắng của ngài cũng phần nào được biểu lộ qua thế Thủy của Tam Hợp Mệnh thắng thế Hỏa của Tam Hợp Thiên Di (Mệnh lập tại cung Thân thuộc Tam Hợp Thân Tý Thìn tức thế Thủy; Thiên Di ở Dần tức thế Hỏa do Tam Hợp Dần Ngọ Tuất).

    2- Tính tình tiềm ẩn (Virtuel)
    Sự ngoại biểu do vòng Thái Tuế, là nguồn căn cho mọi việc. Ở đây cung Nhị-Hợp cung Mệnh sẽ đóng vai trò tinh thần, dù là tiềm ẩn hay nội tại của tình trạng của vòng Thái Tuế ở Mệnh nó là nội tâm của một người, là nỗi lòng thầm kín là khuynh hướng về một mục tiêu nào. Không những chỉ ghi nhận điều trên, cung Nhị Hợp còn cho biết mức độ cũng như sự thiệt thòi, hy sinh hay sự được giúp đỡ, bị người khác hại. Và cũng do định luật Tam Hợp với thế Ngũ Hành giữa hai cung Mệnh và cung Nhị-Hợp mà dàn ra thế trận. Sinh xuất hay sinh nhập cung Mệnh, luôn luôn theo theo nguyên tắc "Mệnh vi chủ", cung Mệnh luôn luôn là chủ, các cung khác nói chung và cung Nhị-Hợp nói riêng phải là khách. Do đó, Mệnh được sinh nhập mới được điều phúc lợi.

    Thí dụ: Mệnh ở cung Tý có Quan Phù, thủ Mệnh, cung Nhị-Hợp là phụ-Mẫu ở cung Sửu. Ta thấy về phương diện nội tại hàng xóm, thân cận, đương số được cha mẹ bao bọc, cưng chiều, giúp đỡ. Do bởi căn nguyên là sự khôn ngoan, lời nói lễ phép dè dặt (đặc tính của Quan Phù) mà được hưởng phúc này.

    Trong phần A này, tôi chỉ nói phớt qua khi đề cập thế Tam Hợp Mệnh và Di cũng như thế Tam Hợp Mệnh và Nhị Hợp, bởi vì cụ Thiên Lương đã giảng rõ về điểm này. Những điểm trọng yếu chính là sự ngoại biểu (biểu kiến) và nội tại (tiềm ẩn), chưa được ai đề cập tới, đó mới là mẫu chốt của phần A mà đã trình bày ở trên. Tiếp dưới đây vì khái niệm vòng Thái-Tuế chưa được khai triển rộng ra theo khoa Tâm Lý Học, nên tôi xin mạn phép được nêu ra, mặc dầu cụ Thiên Lương đã tiên phong nêu ra trong vấn đề này

    B- VÒNG THÁI TUẾ Và TíNH TìNH MỖI Cá NHâN

    Cần ghi rằng sao của vòng Thái-Tuế chỉ luận giải về phương diện tư tưởng ngay chính hay không, đối với cung Mệnh mà thôi. Còn ở các cung số khác, kể cả cung Thân. Đây là một điểm cần nhấn mạnh để khỏi lầm lẫn khi phân tích chiều sâu của một người. Theo thiển ý vòng Thái-Tuế cần phân tích ra hai trạng thái từ Tĩnh tới Động, Tĩnh trong Động, Động trong Tĩnh. Phương diện Tĩnh trạng tượng trưng cho tư tưởng, tính tình hoặc tinh thần qua vòng Thái-Tuế ở Mệnh. Động trạng là bình diện cần an bài đúng vị thế Thân là hành động. Do đó, theo kẻ viết bài này, vòng Thái-Tuế ở Mệnh nói lên riêng về tư tưởng (Tĩnh trạng chứa thế Tĩnh nguyên thủy) và trong nguyên lý dịch học thì Tĩnh mà Động, vì thế tư tưởng là Tĩnh thuần được diễn tả qua thế Động là lời nói, thái độ, hành động. Xin được sắp xếp 12 sao của vòng Thái-Tuế theo tiêu chuẩn vừa nêu:

    1- Thái Tuế
    Người có tư tưởng tự tôn, theo lý tưởng ngay chính, nghiêm nghị, tự cho mình cả Thiên Mệnh để thi hành. Do đó thường cảm thấy không ai xứng với mình về phương diện tư cách, hoài bão.
    ý nghĩa trên phát xuất từ, từ ngữ "ngôi Thái-Tuế", tượng trưng cho ngôi vua, là bậc cao cả, là Thiên Tử, là con Trời, thay Trời cai trị muôn dân. Vua ở xa dân, ngay cả quần Thần cũng vậy, vua cũng có lối sống riêng biệt do lễ nghi quan cách. Vì vậy người có Thái Tuế ở Mệnh, thường cảm thấy cô độc, ít kẻ tri kỷ tri bỉ.

    2- Bạch Hổ
    Tính tình có vẻ sắt đá, nóng nảy, gan lì với hậu thuẫn là phải chính nghĩa của mình. Người có Bạch Hổ tọa thủ tại Mệnh, thường dễ làm mất lòng người khác, vì "lời thật mất lòng". Nhưng nếu miếu địa "Hổ khiếu Tây Phương" (Bạch Hổ ở Dậu) thì dù lời nói thẳng nhưng rất có uy tín, làm kẻ khác nể sợ.

    3- Quan Phù
    Tính chất Quan Phù ở Mệnh, mang lại cho người có nó, một sự khôn khéo, biết tiến thoái đúng thời, đúng lúc mà vẫn không mất tư cách ngay thẳng chính trực của mình. Đó mới là điểm khó khăn, ít người dung hòa được. Người có Quan Phù thủ Mệnh, rất giỏi lý luận, "biết người biết ta"; nên rất tế nhị, thích chinh phục người khác bằng tư tưởng chính phái của mình.

    4- Thiếu Dương
    Thiếu Dương là "Tùy tinh", mang tính chất của sự biến dịch của Tứ Tượng, Bát Quái. Cho nên vị thế của nó rất đặc biệt, tuy sáng suốt nhưng là một thứ sáng suốt dễ sa chân vào hố sâu, cần có nghị lực của bậc siêu phàm mới sử dụng được nó.

    Trước tiên nếu nó đồng cung hay chính chiếu với Hồng Loan, như các cụ Hoàng Hạc, Thiên Lương đã lập đi, lập lại nhiều lần trên Báo KHHB, tôi chỉ xin thu gọn lại, nó có đặc tính vị tha, quên mình, bỏ cái Ta đi để gánh vác việc đời (Xem lại lá số Đức Phật Thích Ca trong quyển Tử Vi Nghiệm Lý của cụ Thiên Lương đã bình giải).

    Ngược lại, nếu nó đi với Đào Hoa thì trở nên vị kỷ, thường chỉ nghĩ đến mình, vì mình tất cả. Còn vị trí Thiếu Dương, Thiên Không ở Tứ Mộ thì phần lớn hay ít dở nhiều, tuy nhiên cũng có vài trường hợp ngoại lệ (sẽ đề cập trong một phần khác).

    Tóm lại người mang cá tính của Thiếu Dương dù vị kỷ hay vị tha do ảnh hưởng của Đào, Hồng cũng là là người rất sáng suốt hơn người, thích được hơn người, vượt lên trên mọi người. Đặc tính này cũng không dành riêng cho ai, dù vị tha như Đức Phật, cũng là một ý chí muốn khác hẳn mọi người thế tục. Chẳng thế mà Ngài đã từng thốt ra câu : "Thiên Thượng Địa Hạ, vô ngã độc tôn" đấy ư !!!

    5- Phúc Đức
    Cũng nằm trong Thế Tam Hợp của Thiếu Dương, nên âm hưởng của sao này đem lại cho người mang nó một sự sáng suốt hơn người nhưng dù sao tính tình vẫn giữ chứ Đức làm đầu.
    Người có sao Phúc-Đức là người thích vươn lên với đời, trong sự sòng phẳng tương quan đổi chác, song phương hưởng lợi, không bán cây sống, trồng cây chết.

    6- Tử-Phù
    Không như hai sao Thiếu-Dương, Phúc-Đức, vì thế sao Tử-Phù tuy cũng sáng suốt nhưng là thứ sáng suốt để lừa lọc người với tính tình ma mãnh, dám làm điều sai quấy nếu có dịp vì từ lời nói tư tưởng tới hành động đối với hạng người này cách nhau không xa.

    7- Trực Phù
    Do tính chất của Địa Chi, thế vòng Trực Phù này bị sinh xuất hoặc khắc xuất. Do đó nhóm Trực Phù, Long Đức, Thiếu âm là nhóm chịu nhiều thua thiệt ở đời (sẽ xin trình bày rõ hơn trong bài sử dụng 4 chữ: Can, Chi, Mệnh, cục), vì thế trong tương quan của thế Tam Hợp thì phải chịu nhiều thiệt thòi, nhưng riêng về vị thế Trực Phù thì cá biệt mà nói, người mang tư cách này thường trong công việc không được đãi ngộ tương xứng với khả năng của mình.

    8- Long Đức
    Tùy cùng chi phái với Trực Phù nhưng cũng như Phúc Đức, vị thế Long Đức còn chịu sự chi phối của nhóm Tứ Đức. Vì vậy, dù thua thiệt, người Long Đức thường hiền hậu, an phận không thích mạo hiểm bon chen, đôi lúc cũng thụ động quá mức mà đưa đến bi quan.

    9- Thiếu âm
    Là vị thế chót của vòng Trực Phù, nhưng cũng nằm trong chu trình tiến hóa của Dịch lý và tương phản với thế Thiếu Dương. Bởi vậy, người Thiếu âm thường bị thiệt thòi, do quan niệm chủ quan, lắm lúc tự lừa dối mình. Quá hiền hậu, hoặc hào phóng quá, dễ tin lời người khác nên trở nên khờ dại (đối nghịch với Thiếu Dương là sáng suốt).

    10- Tang Môn
    Có người cho rằng thế Tang Môn phải ghép đôi với thế Bạch Hổ và ngược lại, vì đó là cặp trong Lục Bại. Thực ra nếu luận theo lẽ biến dịch Ngũ Hành giữa 12 cung số với ý nghĩa của các cung Nhị Hợp, Tam Hợp, Chính Chiếu, hoặc Giáp cung thì sẽ không lạ gì có sự phân cách riêng biệt từng cặp sao, dù là một bộ. Chẳng hạn như bộ Tang-Hổ, bộ Song Hao, bộ Tướng-Binh, bộ Lưỡng Thế …. Cụ Thiên Lương đã giải thích rõ về vấn đề cung Thiên Di, không hẳn thuộc về mình mà tùy vị thế của nó. Đồng mà Dị là cụ Hoàng Hạc cũng quan niệm cung Thiên Di không là của mình, nhưng là hoàn cảnh, là sự xung xát, sự cọ nhau mà thành theo tương quan lý học. Là hậu sinh, nhưng kẻ này xin sẽ có bài nối tiếp về vấn đề này để có tầm áp dụng rõ hơn về âm Dương Ngũ Hành của Lý Học vào Tử Vi.

    Trở lại vị thế Tam Hợp của vòng Tang Môn, Điếu Khách, Tuế Phá là vị thế đối nghịch hoàn toàn của Tam Hợp tuổi. Chính đây là một điểm xung sát mà tạo thành. Thời thế tạo Anh Hùng hoặc Anh Hùng gây dựng nên thời cuộc, là do sự biến ảo ở mấu chốt này.
    Cá biệt về sao Tang Môn cho thấy người có sao này, thường gánh nhiều mối ưu tư, phiền toái, nhiều mối bận tâm (Xem lại số Khổng Tử mà KHHB đã đăng). Nếu diễn giảng ra theo lối suy luận, thì dù bất cứ việc lớn, việc nhỏ vì sự lo lắng của mình, người này không thích đùa giỡn cũng như không thích ai bỡn cợt với mình. Và trong tâm trạng "suy bụng ta ra bụng người đó" hay nói cho đúng hơn là trong tâm trạng "điều gì mình không muốn người khác làm cho mình thì mình không nên làm đối với người khác" người này trở nên tế nhị, dè dặt.

    11- Điếu Khách
    Khoác lên mình một gánh nặng chống đối mọi việc ở đời, người có Điếu Khách, thường thích đả kích người khác, thích tranh luận, bàn cãi, thích thuyết phục người khác. Vì thế mà nhiều sách đã không ngần ngại khi đem gán cho những người có sao Điếu Khách (Mã Khốc Khách) là sẽ làm nghề ngoại giao, môi giới, luật sư … cũng không ngại ngùng gì mà gán cho những Thẩm Phán, Luật Sư là những người có sao Quan Phù thủ Mệnh, Thân. Đành rằng sự gán ép này có những căn bản riêng của nó nhưng về nghề nghiệp là cả một sự phức tạp, còn lệ thuộc vào nhiều yếu tố, không phải chỉ đơn thuần ở vòng sao Thái Tuế mà thôi.

    12- Tuế Phá
    Cũng tương tự đặc tính của Điếu Khách, nhưng ở đây người Tuế Phá là một nét dị biệt, một trạng thái của một sự đối lập, một sự chống đối, thích đi ngược người khác. Có thể làm những việc phi thường nếu được thêm vài yếu tố ở hành động (Thân).

    C- VÀI VÍ DỤ ÁP DỤNG THỰC TẾ

    1- Người có Bạch Hổ ở Mệnh, tại Dậu, Nhị Hợp là cung ách ở Thìn, Thiên Di ở cung Mão. Chỉ cần biết được vài yếu tố nhỏ như trên, chúng ta có thể phác họa ra bề mặt và bề sâu của tâm hồn một người. Như đã trình bày ở trên (qua hai yếu tố biểu kiến và nội tại mà ta gọi giản dị hơn là bề ngoài và bên trong tiềm ẩn) ta có thể lược giải khái quát về tánh tình của đương số như sau :

    a- Bên trong: Người lúc nào trong lòng thường lo lắng nhiều về những bất trắc ở đời. Nhiều khi quá bận tâm về hậu quả của một việc mình làm dù việc này không có gì đáng để tâm. Mệnh sinh xuất cho ách về vấn đề Nhị Hợp này xin coi lại Kinh nghiệm cung Nhị Hợp của cụ Thiên Lương trong cuốn Tử Vi nghiệm lý. Người viết chỉ xin đề cập vài ý kiến mới chưa ai đề cập tới mà thôi.

    b- Bên ngoài: Bề ngoài tính tình có vẻ sắt đá, nóng nảy, gan lì với hậu thuẫn là chính nghĩa, lẽ phải của mình, coi thường đối phương.

    Tổng kết lại, dù bên trong có e dè nhưng khi giới hạn e dè đã bị vượt qua thì người này dám làm bất cứ việc gì, bất chấp hậu quả với niềm tin vào lẽ phải của mình, coi thường đối phương.

    2- Mệnh có Tang Môn ở cung Tuất, Nhị Hợp là Nô Bộc ở cung Mão, Thiên Di ở cung Thìn thì sơ lược khát quát như sau :

    a- Bên trong: Đương số thích được bạn bè hiểu mình, thích được người khác chiều chuộng mình, vị nể mình.

    b- Bên ngoài: Mang tâm trạng tế nhị, người nặng mối lo, có nhiều mối bận tâm, không thích những trò đùa rắn mắc. Do đó đương số dễ mang nét ưu sầu trên gương mặt. Người bi quan trước cuộc sống, thường thấy mình dễ đầu hàng hoàn cảnh (thế Di lấn lướt thế Mệnh).

    Những dòng ghi trên, đó chỉ là tạm thời vạch ra nét tương quan Mệnh, Nhị Hợp, Xung chiếu. Nhưng cần đề cập đến vai trò của THÂN trong sự sắp xếp vòng Thái Tuế. Đó là Phần II của bài này, mà tôi trình bày dưới đây.

    II/ TƯƠNG QUAN THÂN, NHỊ HỢP, XUNG CHIẾU

    Mối tương quan này cũng giống như Phần I, nhưng nếu xét kỹ thì có một điểm khác biệt duy nhất (mà ta đã xét khái lược ở trên) đó là : Vòng Thái-Tuế ở MỆNH chỉ tư tưởng tinh thần thì ngược lại ở THÂN nó chỉ về hành động vật chất.
    Nội dung của Phần II, đã vạch sẵn. Như vậy ta có thể xét theo từng mục : hành vi biểu kiến và tiềm ẩn, mặt trái ở đời, những trường hợp điển hình.

    A- HàNH ĐỘNG BIỂU KIẾN Và TIỀM ẨN

    1- Hành vi tiềm ẩn
    Ở đây phương cách lý luận cũng như Phần I, nhưng đổi vị thế lại một đằng là cung MỆNH và cung Nhị Hợp của nó thì đăng này là cung an THÂN và cung Nhị Hợp của nó. Một đằng khác là hành động tiềm ẩn tức là cứu cánh khác với phạm vi nội tâm. Cứu cánh sau cùng của hành vi là do cung Nhị Hợp sinh nhập hay sinh xuất với cung an THÂN và cung an THÂN phải được sinh nhập mới tốt. Cần ghi nhận vai trò cung số của Nhị Hợp ở Thân so với cung số của cung an Thân cần được phối hợp chặt chẽ với nhau (xem lại về cung Nhị Hợp của cụ Thiên Lương).

    Thí dụ: Thân cư Quan Lộc ở Sửu có Điền Trạch, cung Nhị Hợp ở Tý. Thì hành động cứu cánh của đương số, chính thực là lo về nhà đất, hay nói bao quát hơn là lo việc nhà, việc gia đình.

    2- Hành vi ngoại biểu
    Cần phối hợp cung số mà THÂN cư với vị thế vòng Thái Tuế thì mới hiểu rõ hành động bên ngoài chịu ảnh hưởng điều gì và với đặc điểm gì. Trước tiên ta phải xét THÂN cư cung nào trong các cung số, MỆNH (THÂN, MỆNH đồng cung), Phúc, Quan, Di, Tài, Phối để từ đó ta có thể biết được hành động bên ngoài ảnh hưởng bởi vấn đề gì trong 6 cung nêu trên. Về điểm này không xa lạ gì các sách tử vi đều có nêu ra, tôi xin thông qua điểm này sau khi đã ra nguyên tắc ở trên.

    Sau khi đã định vị trí cung an THÂN, ta mới so sánh với cung số Nhị Hợp xem sinh nhập hay sinh xuất cho cung an THÂN. Cần phân biệt rằng hành vi biểu kiến hay ngoại biểu là phương tiện, còn hành vi tiềm ẩn là cứu cánh. Có thể nói cho dễ hiểu là "cứu cánh biện minh cho phương tiện".

    Thí dụ: THÂN cư Quan Lộc ở cung Sửu có Thái Tuế, Nhị Hợp ở cung Tý là cung Điền-Trạch, Chính chiếu ở Mùi. Ta có thể phối hợp cả dữ kiện bên ngoài và bên trong để xét hành vi một người.

    a- Bên ngoài: THÂN có Thái Tuế, Chính chiếu thuộc thế Mộc thua thế Tam Hợp của THÂN (thế Kim, vì Thân cư Quan Lộc ở Sửu trong tam hợp Tỵ Dậu Sửu). Do đó, hành động bề ngoài của đương số có vẻ tự đại, tự hào. Nếu có thêm những sao quá khích như Hỏa, Linh, Kình, Đà …. thì dễ biến ra kiêu căng, kênh kiệu bề ngoài. Khi bắt tay vào làm việc, đương số dễ dàng thắng hoàn cảnh, vượt qua trở ngại để đạt mục tiêu tiến tới cứu cánh.

    b- Bên trong: Thế Tam Hợp của THÂN là Kim bị sinh nhập cho Thế Thủy ở Điền Trạch (cung Tý). Do đó đương số là người biết lo cho gia đình, chuyện nhà cửa.

    Tổng kết lại ta có thể phối hợp như sau:

    Người này hành động thường tỏ ra tự tôn, không có bạn tri kỷ, tri bỉ, thường hành động riêng một mình trong mọi vấn đề liên quan tới Quan Lộc, và thường gặp thắng lợi trong Khoa cử, hoạn lộ. Đó là phạm vi biểu kiến có vẻ háo danh (cố tìm phương tiện) nhưng tất cả chỉ nhằm tới hành động sau cùng (cứu cánh) là đem thịnh vượng cho việc nhà việc đất, việc gia đình mình.

    B- VÒNG THÁI TUẾ Và HÀNH ĐỘNG MỖI CÁ NHâN

    12 sao vòng Thái Tuế được ghi nhận ở cung an THÂN như là một thế Động. Động mà Tĩnh, ứng với nguyên lý âm Dương của Biến Dịch. Trong phần B số 1, tôi đã liệt kê vòng Thái Tuế trong trạng thái Tĩnh. Do đó trong phần này xin được miễn lập lại vì cũng gần như vậy. Do đó các bạn chỉ đổi từ ngữ lại là xong ngay trong phạm vi Động.

    Thí dụ:

    – MỆNH có Bạch Hổ thì "Tính tình" có vẻ sắt đá, nóng nảy … dễ làm mất lòng người khác …

    Thì nay đổi lại là :

    – THÂN có Bạch Hổ thì "Hành Động" có vẻ cứng rắn, dũng mãnh … đôi lúc hành động thiệt hại, làm sợ sệt cho người khác vì hành vi ngang tàng của mình…

    C- VàI ÁP DỤNG THỰC TẾ

    1- Thân có Tuế Phá ở Ngọ cư Quan Lộc, Nô Bộc ở Mùi, Phối cung ở Tý. Mệnh ở Dần có Tang Môn, Nhị Hợp là Tử Tức ở Hợi, Di ở Thân.

    Ở trường hợp này ta phối hợp hai phần I và II lại để tổng luận:

    Đương số là người hay lo lắng bất cứ việc gì nhưng trong thâm tâm rất thương yêu con cái. Ngoài ra đương số ở trong môi trường chống đối mới tạo lập được cuộc đời, với bản tính tế nhị, chăm sóc con cái mình cẩn thận, lúc nào cũng nghĩ tới đàn con dại (thì có thể là khôn lớn nhưng đối với đương số thì vẫn còn bé bỏng, cần được lo lắng nhiều). Nhưng bề ngoài đương số lại đối đầu với hoàn cảnh trong một thế yếu. Do đó đã hay lo, đương số mắc thêm một khuyết điểm là nhút nhát đầu hàng hoàn cảnh (cần ghi rõ rằng các thế Nhị Hợp, Chính chiếu, vòng Thái Tuế có thể bị suy giảm ý nghĩa do Tuần Triệt hoặc hung tinh … Nhưng dù thế nào ý nghĩa chính vẫn tựu trung bao gồm trong những điểm bao quát trên).

    Đổi lại đối với đương số, là một dịp may "gỡ gạc", khi Thân đương số lại ở Quan Lộc với Tuế Phá lại được Nô Bộc sinh nhập. Tuy rằng thế cung Phối có lấn lướt nhưng cũng giảm nhẹ phần nào. Thật vậy Mệnh, Thân cùng một phía, lý thuyết đi đôi với thực hành, còn gì tốt cho bằng ! Đương số khi bắt tay vào việc, do tính tình tế nhị của mình và hành động đả phá, tuy rằng không đạt đến tột đỉnh, hơi muộn màng nhưng cũng đã thành công trên đường đời. Sự thành công này bắt nguồn từ yếu tố bạn bè, người dưới giúp đỡ (Nô Bộc sinh nhập ờ cung Quan). Đây là một điều chứng giải quan niệm vòng Thái Tuế quan trọng nhất với cá tính, nhờ cá tính mà đi đến thành công.

    2- Mệnh, Thân đồng cung tại Ngọ với Bạch Hổ, Nhị Hợp là Phụ Mẫu ở Mùi, Di ở Tý. (Lá số Hàn Tín_Hàn Tín: sinh ngày 5 tháng 11 năm Giáp Tuất, giờ Ngọ)

    Đương số là người lời nói đi đôi với việc làm, có nhiều hoài bão to lớn, tính tình lỳ lợm, hành vi cũng không kém phần dũng cảm. Hành động "lòn trôn" trước một tên côn đồ ngoài chợ; đó là một hành động dũng cảm mà chỉ người trí dũng ôm ấp nhiều giấc mộng, đạp đất xé trời mới dám làm. Để từ đó tìm cơ hội cho thời cơ mà dựng nên nghiệp lớn, thái độ và hành động đầy chính nghĩa (dù là ôm ấp có đôi chút vị kỷ do sao Hóa Lộc thủ Mệnh hội cùng Đẩu Quân) đã được bậc đáng là mẹ hiền như bà Phiếu Mẫu hiểu thấu và tận tình bao bọc trong lúc cơ hàn (Được Phụ Mẫu Nhị hợp sinh Nhập cung Mệnh!). Tiếc thay trời đã dành cho Hàn Tín một tài ba hiếm có, mà lại xếp so với thế Thiên Di thua sút (thế Di thuộc Thủy khắc thế Mệnh thuộc Hỏa). Cho nên sinh ra đời là đã gặp hoàn cảnh lắm thử thách rồi, may là THÂN, MỆNH đồng cung mới đủ sức chống chọi để vươn lên với đời. Nhưng rồi chung cuộc vùng vẫy chí anh hùng cho lắm để rồi thất bại với hoàn cảnh (chết về tay bà Lã Hậu).

    Vai trò vòng Thái Tuế đã được chiêm nghiệm qua MỆNH, THÂN nhưng cần ghi nhận lại cho kỹ trường hợp MỆNH, THÂN cùng nằm trong vòng Thái Tuế. Hay nói một cách khác MỆNH, THÂN đều nằm trong một thế Tam Hợp Mệnh-Tài-Quan.

    III/ TAM HỢP MỆNH, TÀI, QUAN PHỐI HỢP QUA VÒNG THÁI TUẾ

    Thế Tam Hợp luôn luôn đóng vị trí chủ yếu trong khoa Tử Vi, thực vậy, từ Tam Hợp kết hợp ra Ngũ cục: thủy, Mộc, Kim, Thổ, Hỏa cục, cho đến các vị trí Tiểu hạn san theo từng Tam Hợp tuổi. Và rõ rệt hơn cả, là thế Tam Hợp Mệnh, Tài, Quan là câu nói đầu tiên của người biết coi Tử Vi. Đó là một bình diện thực hành của yếu tố địa chi trong bốn yếu tố Can, Chi, Tuổi, Mệnh, Cục của hai thành tố Gia tộc và Xã hội, tôi sẽ xin viết rõ hơn trong một loạt bài khác về luật Tam Tài: Thiên, Địa, Nhân của Dịch lý.
    Trong lĩnh vực Tâm lý học với vòng Thái Tuế, vai trò Tam hợp cũng rất quan trọng, nó đã cho ta các vị thế để biết bề mặt bề trái của vấn đề. Ở đây Mệnh, Thân đồng vòng Thái Tuế tức đương nhiên ở thế Tam Hợp Mệnh-Tài-Quan. Sự kiện này đặt cho ta một vài dữ kiện phải giải quyết như trường hợp:
    Thân-Mệnh đồng cung
    Thân ở Tài hoặc Quan

    A- THÂN MỆNH ĐỒNG CUNG
    Tư tưởng cùng hành động đều nhập một, lời nói đi đôi với việc làm. Người Thân Mệnh đồng cung dù với vị thế nào của vòng Thái Tuế cũng vậy, luôn luôn tự tung tự tác, cố phấn đấu với hoàn cảnh. Vì vậy, vòng Thái Tuế trong trường hợp này có ý nghĩa:
    Trời, qua cha cho hình hài để hồn nhập vào, mẹ cưu mang những nét đặc thù của mỗi cá nhân, đặt để ta trong môi trường nào; kể cả từ lúc mới sinh ra cho tới ngày xuôi đôi tay lìa đời.
    Hành động tức cái TA lúc nào cũng đối kháng môi trường (hoàn cảnh) sẵn có củ Ta. Người quyết tâm chống lại hoàn cảnh dù bại hay thành.
    Nếu thế Tam Hợp Mệnh Thân thắng thế Di thì mới hội nhập được sao tốt ở cung Di.

    B- THÂN AN Ở TÀI HOẶC QUAN LỘC
    Ở đây cũng cùng thế Tam Hợp về mệnh cũng như về vòng Thái Tuế. Có vị thế đặc biệt cần ghi lại: Nếu thế Tam Hợp Mệnh thua thế cung Di, thì thế Tam Hợp Mệnh hay Thân ở vị thế lấn lên hay chống đối thì mới đủ khả năng hành động vươn mình lên với đời.
    Về các điểm này xem các thí dụ thượng dẫn đã nêu, và nên áp dụng một cách linh động trong tương quan biểu kiến và tiềm ẩn thì mới nắm được yếu quyết của vòng Thái Tuế.

    Thực ra, quan niệm về vòng Thái Tuế qua các mối liên hệ giữa các cung số nói trên được dẫn giải bằng đường lối dung hòa hai quan niệm dùng Dịch Lý trở về nguồn khoa Tử-Vi và khoa học hóa cho dễ diễn đạt thích ứng vào đời sống hiện tại. Triết học hay bất cứ ngành khoa học nào cũng nhằm nêu lên sự hệ thống hóa toàn bộ cũng như cũng có tương quan nhân quả của nó và trong thời đại để được mang sắc thái văn minh, ai ai cũng thích đem danh từ Khoa Học vào để bài bác điều gì họ không thích. Khoa Tử vi cũng chịu chung số phận đó. Không phải vì Tử vi là một môn huyền hặc không có căn bản luân lý vững chắc. Chỉ vì nền văn minh Đông Phương quá cao, chuộng về Đạo, thiên về sự giác ngộ cá nhân, cũng như không có khuynh hướng đại chúng hóa như các ngành Khoa học hiện đại Tử vi có những định luật âm Dương Ngũ hành của Kinh Dịch, nhưng vì chưa được chứng giả đúng mức. Những định luật này không ai có thể bài bác được, vì mới đây Kinh Dịch đã đoạt giải Nobel. Đó là điểm son của sự phục hồi tính cách Khoa Học của nền Triết học Đông Phương. Như vậy, tại sao Tử Vi, một phân bộ trong Kinh Dịch, lại không được ưu đãi đó. Tại vì chúng ta hay tại vì những đàn anh chúng ta quá lơ là hoặc để giữ kín làm của gia bảo. Để rồi, hôm nay, người viết không ngại tài hèn kém cố gắng tìm về nguồn bằng những bước đi ngược lại dấu chân người xưa với âm Dương Ngũ hành, với sự phối hợp của nền Khoa Học mới. Mong rằng sẽ có nhiều bàn tay, khối óc đồng quan điểm (hoặc dù có quan niệm như thế nào) góp vào những suy tư của mình cho vườn hoa Tử Vi thêm rực rỡ.

    Viết xong tại Sài Gòn ngày 06-12-1974
    VI-NHẬT
    (H.Đ.T)
     
  6. MRGIO

    MRGIO New Member

    Tham gia ngày:
    25 Tháng tư 2012
    Bài viết:
    126
    Điểm thành tích:
    0
    Re: Ðề: Tạp chí KHHB

    LÁ SỐ THẠCH SÙNG

    Phú gia địch quốc, nhưng rồi phá sản. Thạch Sùng tắc lưỡi tiếc (bị mất chứ)…..đêm dưới lốt con mối leo tường.

    Định Công Phổ

    Nhà đại phú Thạch Sùng tên thật là gì?

    Trong sử sách cũng như khi ta nói chuyện hễ nói đến những nhà đại cự phú ta ví ngay đến giàu như Vương Khải, Thạch Sùng. Nhật định là ông Vương Khải thì họ Vương tên Khải rồi, thế còn ông Thạch Sung? Theo huyền thoại thì xưa kia, có một nhà giàu “Phú gia địch quốc, đến khi cơ nghiệp bị phá sản, ông ta buồn lắm, rồi tắc lưỡi mà chết, sau hóa ra con thạch sùng là con vật bốn chân thuộc loại bò sát mà chúng ta thấy bò trên tường hoặc trần nhà bắt muỗi ăn. Nhưng theo thiển ý thì ông này họ Thạch tên Sùng. Cũng vì ông tắc lưỡi mà chết, cho nên sau khi ông ta chết thiên hạ lấy con rắn mối bò sát trên tường mà đặt tên nó là con Thạch Sùng, vì nó cũng hay tắc lưỡi như ông Thạch Sùng trước khi ông về bên kia thế giới – chết vì tiếc của!

    Giải đoán về lá số Thạch Sùng

    Thạch Sùng sinh năm Giáp Ngọ, tháng 5, mồng 3 giờ Dần, Dương Nam, Kim mệnh, Mộc tam cục.

    Cung Mệnh ở Thìn có Tham Lang đắc địa. Đây là cách Mệnh Tuần, Thân Triệt, không có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương cứu giải thì vất vả suốt đời vì không có lúc nào được xứng ý toại lòng. Đó cũng là cái tính ham làm giàu muốn giàu mãi thêm lên, nó làm cho đương số phải vất vả là thế. Tham Lang chính tinh đắc địa ngộ Tuần là xấu, thêm nữa cái khung gồm ba sao Suy, Điếu khách, Thanh Long một tốt và hai xấu lại xấu thêm.

    Nhưng đương số được cách “Sử thế vinh hoa, Quyền Lộc thủ tài phúc chi mệnh” nghĩa là phú quí vinh hoa nhất đời. Lại còn được cách Văn Xương, Vũ khúc củng Mệnh là số Cự phú, thêm Thiên Xương, Thiên Khố thì giàu to là phải.

    Cung Tài bạch: ở Tị có Phá quân hợp với Mệnh Kim và Mộc cục, đó là cách “Sóng cồn đại hải” có sách nói sự giàu có nên đứng xa mà xem, chớ lại gần.

    Cung Thiên Di ở Tuất có Vũ khúc miếu địa và Hóa khoa, Đương số xuất ngoại thường chỉ nói về tiền bạc, lại có Hóa Khoa là có tài ăn nói và tránh được tai nạn. Thêm nữa cung Thiên Di, Lộc tồn và Hóa Lộc hợp chiếu số này hễ ra khỏi nhà là hốt bạc hốt châu báu ngọc ngà.

    Cung Thân cư Quan Lộc ở Thân có Thất sát miếu địa ngộ Triệt là xấu lắm. Ở đây tôi xin phép mở một dấu ngoặc: cung Thiên Di thì nói về cách xuất ngoại của đương số, vì vậy hết thảy các sách in nói về Tử vi đẩu số đều giải thích như sau: Tỷ dụ, Thiên Di có Tử vi với Tả phụ Hữu bật thì xuất ngoại có quí nhân phù trợ, hoặc Thiên Di có Tuần Triệt án ngữ, ra ngoài hay gặp những sự phiền lòng, lúc chết ở xa nhà.

    Còn cung Quan lộc mới là cung nói đến kẻ đối thủ của đương số. Nếu có Tuần Triệt án ngữ sẽ gặp nhiều trở ngại trên đường công danh. Đã có lần chúng tôi viết:
    “Triệt án, Đế vương quan lộc vị
    Vua còn bị truất kể chi quan”
    để giải đoán số của một vị Quốc trưởng, cung Quan lộc có Triệt án ngữ mà bị truất phế.

    Lại một tỷ dụ khác: Trong một công sở nọ, cần một viên chức, mà có hai người xin ứng thí. Khi hai vị này củng cố sức tranh dành một việc, chẳng phải là đối thủ của nhau sao?

    Lại có người đặt vấn đề: Những người không phải là Công quân thì cung Quan lộc thành vô vị ư? Chúng tôi xin đáp là ai ai cũng cần đến Cung Quan lộc hết thẩy. Tỉ dụ mấy nhà thầu khoán cùng đến bỏ thầu để được chấp nhận cung cấp cho Nhà nước vật liệu hay nhân công gì đó, khi mấy nhà thầu này tranh nhau một việc, họ đều là đối thủ của nhau. Vậy xin kết luận:

    Cung Thiên Di là nói về cách xuất ngoại có được vị nể hay coi thường, và lúc chết, chết xa nhà hay bị cách “Thượng lộ Mại Thi” là chôn xác ngoài đường. Còn cung Quan Lộc để xem đối phương của đương số là người thế nào, hiền hòa với mình hay tìm cách hãm hại mình. Xem cung Quan lộc cũng có thể biết đối phương là người dùng tài đấu trí với mình hay là hạng người tìm cách hạ mình, bằng những phương tiện bỉ ổi, phi nhân phi nghĩa.

    Trở lại cung Quan lộc của Thạch Sùng ta thấy có Thất Sát ở Thân là cách “Thất sát triều đẩu, tước lộc vinh xương”. Nhưng ở đây Thất sát ngộ Triệt, thì trái lại xấu lắm. Đối thủ của Thạch Sùng là những tay có thế lực nhưng quá tàn ác, đánh cho Thạch Sùng tuyệt nghiệp để rồi ôm hận mà chết, và trước khi nhắm mắt từ biệt cõi đời còn tặc lưỡi tiếc của!

    Cung Phúc đức ở Ngọ, tuy được cách “Lộc Quyền sử thế vinh hoa, nhưng có Thái Tuế bị Khốc Hư xung chiếu là số không được hưởng phúc dồi dào và giảm thọ.

    Vận hạn

    Đại hạn 10 năm

    -Từ nhỏ đến 12 tuổi: Trong sung túc nhưng vất vả vì chỉ thích có tiền của (Đẩu quân).

    -Từ 13 đến 22 tuổi: có Cự Môn ở Tị hãm địa, ngộ Tuần thành tốt, đây là cách “thực lộc tri danh” có tiền rồi có danh. Cung Tị có cung ách ở Hợi xung chiếu có Nhật hãm địa ngộ Hóa Kị, thường bị hao tiền tốn của vì bệnh tật.

    -Từ 25 đến 32 tuổi: là thời kỳ đẹp nhất trên đời vì có Song Lộc Quyền Khoa, tuy rằng có Thái Tuế nên bị thị phi.

    -Từ 33 đến 42 tuổi: Có Thiên Lương và Kình Đà Hỏa Linh Hình Kị là thời kỳ xuống dốc. Vì sao Thiên Lương là nam đẩu tinh, nên chỉ ảnh hưởng về 5 năm sau là năm 38, 39, 40, 41 và 42 tuổi mới thật là xấu.

    -Từ 43 đến 52 tuổi: Ở Thân, vì Thân Mệnh bị Triệt án ngữ, thêm Thất Sát Thiên Mã, Tang môn, Bạch hổ, Cô thần, Quả tú và sao Tuyệt nên đoán là xấu lắm, Thạch Sùng chết trong đại hạn này.

    Tiểu hạn 1 năm
    Năm Mậu Dần, Thạch Sùng 45 tuổi, tiểu hạn ở cung Tí có Phá Quân gia thêm Khốc Hư và Phục binh đồng cung, xung hợp chiếu có Thái Tuế, Thiên Xương, Thất Sát, Thiên Mã Tuyệt nên gia tài bị tiêu tán, sản nghiệp tan tành cho nên ôm hận và chết tức chết tưởi.

    Lưu niên đại hạn
    Năm 45 tuổi, lưu niên đại hạn ở cung Sửu có Địa kiếp, Thiên không, Địa không, Đà la, Linh tinh, Quan phù, Trực phù và Thiên hình, nhiều sao xấu quá tụ họp và không có sao cứu giải như Tử Phủ Khoa Lộc cho nên phải chết. Đó là đúng Mệnh Trời.

    KHHB số 74E2
     
  7. MRGIO

    MRGIO New Member

    Tham gia ngày:
    25 Tháng tư 2012
    Bài viết:
    126
    Điểm thành tích:
    0
    Re: Ðề: Tạp chí KHHB

    Lá số và cuộc đời nữ ca sĩ Diễm chi
    (được mệnh danh là Du ca chi bảo)
    (Luận đoán của Lê Thanh Thái)



    Khái luận về Mệnh Thân và Cục

    Tuổi Sửu thuộc Thổ lập Mệnh tại tứ Mộ là đắc cách, nhất là cung Sửu (cung tuổi). Mệnh Tích lịch Hỏa đắc chính tinh thụ mệnh là Nhật Nguyệt, ngộ Khoa, Mã, Cáo, Phụ, Mộc, Hỉ, Long, Phượng, Cái, Hổ và giáp Lộc, Quyền. Đó là những cát, quý tinh giúp Diễm Chi có năng khiếu đặc biệt về ca nhạc từ nhỏ, và tiếng hát giọng ca thiên phú của nàng cũng nổi bật hơn các bạn đồng trang lứa. Hiềm vì đám hung tinh Tuế, Toái, Kình, Đà xâm nhiễu cho nên tuổi thiếu niên phải gặp nhiều lận đận trên bước đường nghệ thuật.
    Thân cư Phúc tại cung Mão thuộc Mộc là Thủy Cục bị sinh xuất, mặc dù đắc cách Cự cơ ngộ song Hao, Xương, Khúc, Tấu, Mộc là những cát tinh giúp cho Diễm Chi ngày càng sáng chói trong lĩnh vực ca nhạc, nhưng bị đám Linh, Hình, Kỵ, Diêu, Tang, Điếu làm cho Diễm Chi phải vất vả trong khi danh vọng ngày càng lên cao.

    Nhìn qua những cung nổi bật trong lá số
    Ngoài cung Mệnh và cung Phúc (có Thân cư), cung Tài là nổi bật. Cung này lập tại Dậu thuộc Kim sinh phò cho Thủy Cục, càng lớn tuổi tiền bạc càng dồi dào. Tài bạch VCD đắc Triệt đáo Kim cung ngộ Nhật, Nguyệt, hội Khoa, Mã, Long Phượng, Cái, Hổ và song Hao đắc địa: từ 32 tuổi trở đi cuộc đời đã ảnh hưởng nhiều vào Thân và Cục, Diễm Chi sẽ gặp nhiều may mắn về tiền bạc và cũng lúc bấy giờ mới giữ được tiền và tạo dựng được nhà cửa quy mô theo ý mình muốn (cung Điền có Tử, Phủ, Vũ, Tướng ngộ Tả, Hữu, Thai, Tọa và Hóa Lộc phùng Khôi, Việt, Sinh Vượng).
    Cung Quan Lộc: lập tại Tỵ hợp với Hỏa mệnh (nhưng khắc Thủy Cục) mặc dù có Thiên Lương lạc hãm tọa thủ, danh vọng cũng vẫn đến với Diễm Chi là nhờ Khoa, Mã ngộ Long, Phượng, Cái, Hổ, Cáo, Phụ và Mộc, Hỉ, Tấu, Lâm quan phùng Nhật, Nguyệt.
    Cung Thiên Di: lập tại Mùi thuộc Thổ, khắc với Thủy cục và Hỏa mệnh cũng bị tiết chế, nhờ có Tuần án ngữ và đắc Nhật, Nguyệt, Xương, Khúc, Tấu, Hỉ; giáp Quang, Quý thành thử Diễm Chi dễ được cảm tình với nhiều người và giữ được sự ái mộ đặc biệt là lâu dài với khán thính giả bốn phương, dù trước đây nàng rất ít xuất hiện trên màn ảnh truyền hình cũng như ở các đài phát thanh.
    Riêng cung Phu Quân, vì lập ở cung Hợi thuộc Thủy khắc với Hỏa mệnh, lại gặp Kỵ, Đà, Tang, Điếu, Hình, Diêu xâm nhiễm Cự, Đồng, Lương lạc hãm cho nên trong vấn đề hạnh phúc hôn nhân, Diễm Chi lắm gặp ưu tư nhiều hơn thoải mái.

    Nhìn qua những Đại tiểu hạn

    Năm 17 tuổi, tiểu hạn Nhi đồng ở cung Điền, gốc Đại hạn còn ở Mệnh, lưu đại hạn vào Phúc đức. Năm này tiểu hạn có Tử, Phủ, Vũ, Tướng ngộ Khôi, Việt, Tả, Hữu, Thai, Tọa. Gốc đại hạn có Nhật, Nguyệt phùng Long, Phượng, Cái, Hổ, Mộc, Hỉ, lưu đại hạn có Diêu, Tấu, Mộc, Dưỡng ngộ Xương, Khúc. Diễm Chi được hoan nghênh đặc biệt trên sân khấu trong buổi tiệc tất niên của Trường tiểu học Quang Trung qua bài Hè Về (của Hùng Lân) và tiếp theo đà đó, Diễm Chi đã chịu khó học hỏi và luyện tập cho giọng ca thiên phú của nàng ngày càng điêu luyện qua những bài dân ca.
    Năm 20 tuổi (Mậu Thân, 1968): tiểu hạn đến cung Huynh đệ, gốc đại hạn vào cung Phụ mẫu, lưu đại hạn ở Mệnh. Năm này hai hạn hội Khôi, Việt, song Lộc, Quang Quý, Đào Hồng, Hỉ phùng Quyền, Lộc Tồn và Nhật, Nguyệt ngộ Tứ Linh: Diễm Chi xuất hiện lần đầu trên màn ảnh truyền hình trong chương trình Đỗ Thu, giọng ca của nàng đã làm giới mộ điệu chú ý đặc biệt.
    Năm Canh Tuất (1970, 22 tuổi): tiểu hạn đến cung Tử tức, gốc đại hạn đổi vào Phúc đức. Năm này hai hạn gồm đủ Hồng, Đào, Xương, Khúc, Tấu, Mộc Dưỡng phùng Quyền, Lộc (Tồn): Diễm Chi cộng tác với phòng trà Ritz của Jo Marcel với sở trường là những bài dân ca Gia Rai và dân ca Hoa Kỳ.
    Năm Tân Hời (1971, 23 tuổi): tiểu hạn vào cung Tài bạch trùng phùng với lưu đại hạn, gốc đại hạn ở Phúc đức. Năm này gồm đủ bộ Long, Phượng, Cái, Hổ, Xương, Khúc phùng Nhật, Nguyệt, Mộc, Hỉ, Khoa, Mã: Diễm Chi lên màn ảnh truyền hình nhiều lần trong các ban Trần Tử Thiêng, Anh Việt Thư qua các bài Hòa bình ơi, Việt Nam ơi và Hội mùa xuân.
    Năm Nhâm Tý, 24 tuổi (1972): tiểu hạn vào cung Tật ách trùng phùng với lưu đại hạn, gốc đại hạn vẫn ở Phúc đức. Năm nay có Khôi, Việt ngộ Thanh Long, Long Đức và Sinh, Vượng ngộ Quyền, Lộc, Hồng, Hỉ: Diễm Chi thu băng nhựa cho hãng Thanh Thúy (bài Lạc vùng ăn năn), hãng Shotguns và hãng Du Ca qua các bài Bông bay, Dìu nhau (thơ của Diễm Chi do Ngô Mạnh Thu phổ nhạc). Và tiếp trong năm sau (25 tuổi), tiển hạn vào cung Di, cung này VCD đắc Nhật, Nguyệt chính chiếu hội Xương, Khúc và giáp Quang Quý: Diễm Chi vẫn tiếp tục hát phòng trà Thanh Thúy và thu thêm băng nhựa ở hàng Đỗ Lễ.
    Năm 26 tuổi (Giáp Dần, 1974): tiểu hạn vào cung Nô, giao huy với lưu đại hạn ở Tử tức, gốc đại hạn vẫn ở Phúc đức. Năm này Thất sát ngưỡng đầu nhưng bị Tuần án ngữ, nhờ Hỏa mệnh vẫn được hưởng sự tốt đẹp của Song Lộc; Quyền Phủ, Vũ, Quý, Hồng, Đào, Thiên, Nguyệt Đức: Diễm Chi được nhiều phòng trà mời cộng tác (Quốc tế của Thanh Thúy, La Sfrene của Nhật Trường, và Khánh Ly) và tiếp tục thu băng nhựa, và cộng tác thường xuyên với đài phát thanh trong chương trình hằng tuần của Trần Văn Trạch.

    Luận đoán tương lai Diễm Chi năm ất Mão (1975)
    Năm ất Mão, 27 tuổi, tiểu hạn đến cung Quan, trực giao với lưu đại hạn ở cung Phu, gốc đại hạn vẫn còn ở Phúc đức.
    Năm này phòng đụng nhẹ về xe cộ vào những tháng đầu năm. Cuối năm có vài dịp đi xa rất tốt. Cẩn thận đề phòng những đợt sóng ngầm có thể làm rạn nứt hạnh phúc vợ chồng, nhất là vào những tháng đầu năm.
    Tháng giêng, hao tài, phòng con cái ốm đau. Tháng 2, tránh những sự cãi cọ vô ích làm rạn nứt hạnh phúc gia đình. Tháng 3, có quý nhân giúp công việc làm ăn tốt. Tháng 4, tốt trong lĩnh vực ca nhạc. Tháng 5, tiền bạc dồi dào và tiếp tục tốt trong lĩnh vực nghệ thuật. Tháng 6, cẩn thận tránh những sự tranh luận giữa vợ chồng. Tháng 7, phòng sự đau ốm của con cái. Tháng 8, tốt về tiền bạc và danh vọng. Tháng 9, phòng đau ốm bản thân. Tháng 10. nên hàn gắn những rạn nứt trong tâm hồn. Tháng 11, tiền bạc vẫn dồi dào. Tháng chạp, có sự thay đổi tốt về công việc, làm ăn hoặc tậu thêm xe cộ. Nhưng tâm hồn vẫn không được thoải mái.

    Sài gòn tháng Hai năm ất Mão
     
  8. MRGIO

    MRGIO New Member

    Tham gia ngày:
    25 Tháng tư 2012
    Bài viết:
    126
    Điểm thành tích:
    0
    Re: Ðề: Tạp chí KHHB

    Members

    1228 Bài Viết:
    3454 thanks
    LocationHome
    Gửi vào 20/11/2011 - 04:37 PM
    KHOA HỌC HUYỀN BÍ 2-A(75)

    MỤC LỤC :

    KHẢO CỨU – THAM LUẬN
    - Tướng số trên 12 cung số Tử Vi
    - 49 chưa qua – 53 đã tới
    - Cơ giáng đầu xuân
    - 10 tác phẩm Tử Vi hiện đại
    - Phá Quân Thìn – Tuất
    - Lá số nữ ca sĩ Thái Hiền
    - Những cung Phúc và ách Vô ChÍnh Diệu
    - Tìm hiểu các vấn đề đa thê qua Tử Vi
    - Trả lời nhà tướng số Đông Nam á
    - Nguyên tắc và định lý để giải đoán lá số Tử Vi
    - Suy tÍnh 1 lá số cần đổi giờ sinh
    - Bộ môn hát bội
    - Những lá số bất đắc kỳ tử
    KHOA HỌC HUYỀN BÍ & KHOA HỌC
    - Các nét tướng trong cơ thể
    - Bói toán Cảm xạ học
    - Lục hào lý sự
    - Lục Nhâm đại độn

    CHUYỆN HUYỀN BÍ & LỊCH SỬ
    - Thần đồng Ann-Marie
    - Phù thủy ngày xưa
    - Hiện tượng Uri Geller
    - Tôi đi xem ông Lang ngoại khoa
    - Đức Tông Sư (Sú???) Đắc Huệ
    - 12 nhân vật huyền bÍ Bình Dương
    - Chuyện con mèo của nhà văn Chatcaubriand
    - Con vật ở miền Gévaudan
    - Ngày xuân với kẻ hàn nho

    PHỤC VỤ BẠN ĐỌC:
    - Hộp thư Cảm xạ học
    - Hộp thư Khoa học huyền bÍ
    - Gia cát thần số
    - Trả lời bạn đọc về Tử vi
    - Vận mạng trong tuần
    - Bảng đối chiếu âm lịch sang Dương lịch

    10 TáC PHẨM TỬ VI HIỆN ĐẠI




    VÕ VĂN CHâU

    Khoa Tử vi xuất hiện ở VN không phải mới mẻ gì nhưng thử tÍnh đến nay có được bao nhiêu tác phẩm xuất hiện trước công chúng? Chỉ vỏn vẹn hơn 10 cuốn
    Với số lượng Ít ỏi đó, người đang học hỏi, nghiên cứu tử vi lúc nào cũng cảm thấy k thỏa mãn, mặc dù các quyển lý số này từa tựa nhau trên căn bản lập số, đoán số nhưng cũng có những điểm đặc thù thÍch thú
    Trong tinh thần học hỏi để tiến bộ, người viết sẽ lần lượt phân tÍch dưới nhãn quan của người hậu học, 10 tác phẩm sau đây:
    Tử vi chỉ nam của Song An Đỗ Văn Lưu
    Tử Vi bổ túc của Nguyễn Mạnh Bảo
    Tử vi Đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang
    Tử vi áo bÍ Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử
    Tử vi hàm số của Nguyễn Phát Lộc
    Tự tìm hiểu đời mình của Nguyễn Mạnh Long
    Tử vi nghiệm lý của Thiên Lương
    Tử vi Đẩu số toàn thư của Vũ Tài Lục
    Tử vi phú giải của Thái Vân Trình
    Tử vi dưới mắt khoa học của Vu Thiên Nguyễn Phát Lộc
    Và cũng vì khuôn khổ hạn hẹp của tờ báo, người viết sẽ chỉ ghi lại những nét đại cương của từng tác phẩm với hậu ý tóm tắt toàn bộ vấn đề hầu quý độc giả thưởng lãm trong mùa xuân Ất mão 1 cách trọn vẹn
    Đó là điều mong muốn của mọi người, ở năm này, các nhà Tử vi lẫy lừng phổ biến các bÍ quyết, các kinh nghiệm, các tuyệt chiêu cho dàn hậu bối thụ hưởng qua các soạn phẩm tử vi mà các vị còn ôm ấp, còn luyến tiếc, còn mơ màng thời vàng son rực rỡ

    1. TỬ VI CHỈ NAM – SONG AN ĐỖ VĂN LƯU
    Đây là quyển sách lâu đời, ra đời năm 1934 và tái bản lần thứ 3 năm 1957, đến nay kể như tuyệt tÍch trên thương trường
    Tác giả kể lại hoàn cảnh tin số mệnh, tìm hiểu số mệnh để rồi biết số mệnh và long nhiệt thành, quyển sách này mới ra đời
    Toàn bộ Tử vi chỉ nam gồm có 3 quyển, có tất cả 236 trang. Với số trang khiêm nhượng trên, độc giả không phải thất vọng vì được tác giả hướng dẫn cách thức an sao lập số, cách đoán tử vi trên các cung số rÕ rang, đầy đủ, trọn vẹn. Và với 32 lá số mẫu, tác giả giúp cho ta thấm nhuần phương pháp giải đoán thông thường mà mỗi người học số đều phải vượt đến
    Ở tác giả, ta thấy tác phẩm có lời văn bình dị, mộc mạc mà người đọc cũng thâu nhận dễ dàng, tuy rằng sự xếp đặt thứ tự các mục chưa được khúc chiết cho lắm, còn nhiều lẫn lộn. Điều đó không đáng kể vì người ta chỉ cần cha đẻ của đứa con tinh thần đó thật tâm truyền thụ cho đứa con xứng đáng, danh dự phô trương với đời. Có lẽ trong kinh nghiệm tìm kiếm thầy hay mà tác giả cay đắng gặp phải nên ở tác phẩm này, các tinh hoa của nền học thuật Đông phương cổ cộng với kinh nghiệm hành nghề, được cụ dốc hết tâm ý giãi bày cho hậu thế thưởng lãm. Vì vậy, sách TVCN đã tiết lộ them nhiều tình tiết Thái tuế từng năm (trang 170), xem số trẻ con (trang 121) nhất là bang bạc các trang của quyển thứ 3
    Dẫu biết rằng các cách đặc thù kể trên đều được tiền nhân kê cứu sẵn nhưng thử hỏi các tác phẩm Tử vi hiện thời đã có mấy quyển “xì” các bÍ quyết đó ra?
    Thế cho nên, với số sách hạn chế trong Tử vi, ta sẽ còn phải đắn đo chọn lựa và chắc hẳn rằng sách xem được dung nghiên cứu được sẽ không vượt quá số đầu ngón tay
    Một dịp nào thuận tiện, chúng ta sẽ phân tÍch tận tường các nguyên nhân thúc đẩy đến tình trạng nghèo nàn nhất, bi thảm nhất của làng Tử vi VN

    2. TỬ VI BỔ TúC – NGUYỄN MẠNH BẢO
    Tôi được biết 1 sĩ quan QLVNCH đã thuộc làu các bài thơ trong quyển Tỉ vi bổ túc này, mặc dù ông không biết tử vi là gì. Được hỏi lý do, ông cho biết rằng tại thể thơ hợp với sở thÍch, vì vậy ông đọc tới đọc lui lâu ngày nên thuộc
    Nói như vậy để độc giả thấy rằng quyển TVBT Ít ra đã làm hài long giới hâm mộ thi phú và người học hỏi tử vi sẽ thÍch thú khi đọc qua tác phẩm này. Các câu phú trên do Ma Y lão tổ trước tác và cụ Lê Quý Đôn diễn giải ra quốc âm với hơn 400 cách lý đoán mà phần nhiều đề cập đến các bang tinh
    Nhiều lúc gặp thầy giải đoán chuyên chú, má sát vào các chÍnh tinh, tôi đâm ra nghi ngời sự diệu dụng của khoa Đẩu số vì với 14 chÍnh tinh vận hành trên 12 cung số dĩ nhiên sự khác biệt sẽ bị thu hẹp rất nhiều, sự trùng hợp do đó sẽ xảy ra. Tôi cùng các bạn hữu bèn quay qua quan sát các sao nhỏ, tuy gọi là không quan trọng nhưng thật ra chúng đã từng làm đảo lộn thế cờ giải đoán. Quyển sách này đã trợ giúp chúng tôi đắc lực và trong 183 trang, chúng ta được đọc qua phần Tử vi tổng luận phú, các sao đắc hãm tại 12 cung, luận Mệnh viên nam nữ….tạm gọi khá đầy đủ để bổ túc them kiến thức đẩu số toàn vẹn, nhất là bổ túc cho quyển tử vi đẩu số cùng tác giả
    Công cuộc sưu tầm của tác giả thật tỉ mỉ và quan trọng với sở nguyện khoa học hóa môn tử vi, đemmôn lý học này phổ biến cho ngoại quốc, thì với ấn bản trên làm vững niềm tin cho đám hậu học chúng ta khá nhiều, xem như là 1 tài liệu khả tÍn, ứng dụng chÍnh xác vào bản số.
    Tiếc thay, trong giờ phút này, người thừa kế không tiếp tục toàn vẹn hóa khoa Tử vi như ý nguyện của tác giả mà hình như hững hờ trước việc làm của tác giả khiến cho người thÍch nghiên cứu phải dò dẫm trở lại từ con số 0

    3. TỬ VI ĐẨU SỐ TâN BIêN – VâN ĐẰNG THáI THỨ LANG
    Chúng ta dành 1 phút để tưởng niệm linh hồn cụ Vân Đằng Thái Thứ Lang đã tử nạn lưu thông, trước khi xem lại Tử vi của người
    Ta thấy tác phẩm của cụ từng ghi “ Tham Lang ngộ Bạch hổ : phải phòng cá thú cắn”. Đối với ngày nay, ác thú của loài người không phải cọp beo vô uy lực trong các chuồng ở vườn Bách thú mà chÍnh là các xe cộ qua lại như mắc cửi hung hãn hơn vị hung thần
    Thành ra những quan niệm xưa áp dụng vào thực tế ngày nay phải thay đổi theo từng thế hệ, từng thời đại trên chiều hướng tiến bộ của loài người. Khi đọc tác phẩm này, trong tinh thần mới đó, chúng ta sẽ dễ dàng thâu nhận các tinh hoa của khoa Tử vi vậy
    Sách phân là 3 phần: Lập thành; Luận đoán tổng quát; và Luận đoán vận hạn
    - Ở phần 1, chắc rằng mọi người đều đã rÕ. Chỉ riêng đại mục lý giải ngũ hành, Can chi, biên giả cũng như hầu hết các tác giả khác ghi ra lấy lệ chứ không nói rÕ công dụng của nó sinh, khắc, hòa hợp với nhau như thế nào trong tử vi. Một dịp nào đó, ta sẽ bàn chi tiết hơn vấn đề này
    - Trong phần 2, ta sẽ lưu ý đến phần hướng dẫn của tác giả khi luận đoán 1 lá số. Đây là căn bản nhập môn mà Í tai chịu hướng dẫn rach5roi2, đầy đủ mà áp dụng khá chÍnh xác. Nói về tÍnh lý các sao, biên giả sắp xếp thật phân biệt, kỹ lưỡng và phối hợp khá đầy đủ 1 cách đơn giản (kết hợp 1 số Ít sao để luận) cũng như phụ luận các cung số qua kinh nghiệm của cụ, đã rộng mở đường hiểu biết của độc giả không phải nhỏ
    - Tại phần 3, phần quan trọng khả dĩ hướng dẫn 1 bộ óc thông minh trung bình tạm thời giải đoán khá ổn thỏa, đúng phương pháp sau 1 thời gian ngắn theo dÕi tác phẩm này
    “Tôi học Ít. Sự suy xét còn nông cạn…Nhưng với tấm long thành muốn góp 1 phần nhỏ vào công việc phổ biến tử vi đẩu số, tôi mạo muội biên soạn và đưa xuất bản cuốn sách này”. Ai lại không phục lời nói khiêm cung, hòa nhã của cụ Vân Đằng? Trước 1 nhiệt tình đầy dẫy, trước 1 người hữu công đã khuất, tôi mạo muội dừng bút nơi đây mà chưa vội lạm bàn đến các khiếm khuyết của tác phẩm

    4. TỬ VI áO BÍ – Hà LẠC Dã PHU VIỆT VIêM TỬ
    Nhìn qua quyển sách dày như quyển tự điển, với tên đề, ta thấy tử vi sẽ ảo diệu bao nhiêu, sẽ ngăn chùn bước chân chập chững vào vườn hoa lý số của bao người
    May mắn thay, nhìn vào trang cuối, ta thấy tác giả để địa chỉ liên lạc hầu giải quyết các thắc mắc của độc giả ham tìm tòi. Tôi chưa có dịp tìm đến cụ Hà Lạc, tuy nhiên tôi cảm thấy vui sướng khi tác giả làm việc đó mà các tác giả khác, các soạn giả, biên giả khác chưa hoặc quên làm. Tôi có cảm tưởng họ buông thả đứa con tinh thần của họ, mặc sống chết ra sao, cũng chả cần biết đến hậu quả hành động của chúng hữu Ích hay tác hại (?) để gánh lấy 1 phần hãnh diện hay trách nhiệm
    Trở về nội dung của tác phẩm, ta thấy tác giả thực sự chỉ dẫn độc giả phương pháp lập thành lá số, nhưng lại dài dòng ở chương 2. Nhưng ta phải thành tâm nhận xét rằng, với chương 3, chương đặc biệt hơn tất cả, tác giả đã phân tÍch các quan niệm an sao của các hệ phái để cuối cùng dứt khoát nên chọn con đường nào hợp lý nhất để đi, nhất là cách an Vòng Tràng Sinh. Tại chương 8 và 9, tác phẩm giúp ta nắm vu7ng4cac1 cách của đẩu số, vận hành và tương quan 12 cung đối với mệnh viên
    Nhìn chung, quyển Tử vi áo bÍ có 1 trình độ cao hơn các quyển đồng loại khác : độc giả muốn nghiên cứu thông đạt ắt hẳn phải có 1 kiến thức dồi dào về môn lý số này vì có nhiều chủ đề (vÍ như Ngũ hành) tác giả quảng diễn thiếu khúc chiết, mạch lạc và chân thực, từng gây lung túng cho độc giả không Ít. Sự chủ quan của cụ hà Lạc trong các cách giải thÍch rườm rà hẳn phát sinh trong đầu óc người xem những nghi vấn cần được giải tỏa
    Và cũng như đa số tác giả khác, những “tại sao như thế này…” không được cụ hướng dẫn kỹ càng, thành ra đọc xong, ta chấp nhận như là 1 kết quả thực tế kinh nghiệm chứng minh chứ không thể tìm đến chân lý của vấn đề

    5.TỬ VI HàM SỐ - NGUYỄN PHáT LỘC
    Nom 500 trang, do Khoa học Nhân Văn xuất bản năm 1972, Tử vi hàm số được sắp xếp thật khoa học, giúp cho người nghiên cứu nắm vững các vấn đề phiền toái của môn tử vi học
    Đặc biệt, tác giả nêu ra qui tắc luận đoán 1 lá số thật cầu kỳ, tỉ mÍ, đầy đủ khiến cho ta cảm thấy rằng khoa lý học này rất toàn vẹn, toàn bÍch và đâm ra ngỡ ngàng trước kiến thức hạn hẹp của mình. Thật vậy, tôi đã từng nhìn thấy 1 nhà tử vi thiết lập lời giải đoán dài 100 trang giấy học trò, cũng chưa đủ các yếu tố cần thiết như tác giả đã trình bày. Thế mới biế, tử vi là bao la, rộng lớn đến dường nào
    Trong phần luận thuyết về Hàm số tử vi được xem như 1 chủ đề mới mẻ, trong đó, bao giờ tác giả cũng lưu ý đến cung Phúc đức, 1 cung có giá trị tột độ ảnh hưởng mật thiết với các yếu tố khác. Đây là phần có giá trị thiết thực như 1 tài liệu tham khảo mà mọi người không thể bỏ qua được
    Tiếc thay, đôi lúc tác giả tự mâu thuẫn với mình vì quá mê say phối hợp các hệ phái tử vi khi chứng minh rằng tử vi không thần quyền mà tại phần tÍnh lý các sao, ông lại rơi vào các điều thần bÍ mà ông bài bác ở trên
    Tiếp đến là phần ý nghĩa các chÍnh và phụ tinh, ta thấy tác giả đã công phu sưu tầm, biên khảo với kinh nghiệm dồi dào, sắp xếp mạch lạc, giúp cho những ai muốn rạch ròi phân biệt khi nghiên cứu, học hỏi tử vi
    Tác phẩm TVHS có 1 giá trị khá cao trong làng sách hiện hành và người muốn tham khảo môn này, Ít nhất phải có quyển sách này làm căn bản tối thiểu để tiến tới, tuy rằng nó có khuyết điểm cố hữu ở sự gán ép của tác giả khiến cho ta không nắm vững vấn đề hoặc làm thừa thãi ở sự phối hợp các sao
    Dù sao, quyển TVHS vẫn còn thiếu sót như tác giả mặc nhiên thú nhận : phải có quyển Tử vi tổng hợp (chưa xuất bản) mới định rÕ giá trị thật sự của tác phẩm này được

    6.TỰ TìM HIỂU ĐỜI MìNH – NGUYỄN MẠNH LONG
    Sách do hương Giang ấn hành năm 1971 với giá đề 400 đồng, dày 350 trang, khổ nhỏ. Đây là quyển sách có thể gọi là tiêu chuẩn sơ cấp cho những ai mới có dịp tìm hiểu tử vi đẩu số, vì với lối hành văn giản dị, dễ hiểu, với cách an sao rút gọn thành hệ thống đồ bản sẽ giúp hoàn thành 1 lá số rất dễ
    Tác giả hướng dẫn cách luận đoán tạm thời bản số tử vi qua các cách cục xấu tốt, thuận nghịch, sinh khắc giữa ngũ hành bản mệnh , cục, sao cung. Tác giả bàn qua đặc tÍnh tổng quát của các sao chÍnh, phụ ứng chon am mệnh, nữ mệnh và vận hạn kèm theo 1 bản phụ giải về phú đoán, căn bản cố truyền của các nhà lý số dung trong việc đoán số
    Có thể nói, tác phẩm bao gồm đầy đủ các yếu tố cần thiết cho các truyền nhân của lão tổ Trần Đoàn
    Như đã nói trên, quyển sách này là căn bản sơ đẳng của người mới nhập môn nên dĩ nhiên còn thiếu sót rất nhiều từ cacha1 kết hợp các sao đến việc trưng bày lá số mẫu. Muốn tiến hơn, người học cần phải trau dồi them ở các quyển tử vi khác, ở các kinh nghiệm bằng hữu, ở chiêm nghiệm thường xuyên, ở sự tiếp thu chân thành của mình
    Đó là chưa kể các vấn đề cần xét lại (tương sinh giữa mệnh và cục – trang 47 – hành mệnh và hành sao – trang 4:cool: hoặc thiếu sót (tÍnh lý các sao tại các cung, ảnh hưởng ngũ hành Can chi ứng dụng vào tử vi, ,ục lục…) hoặc cẩu thả (in sai, thứ tự sắp xếp các trang, sự sắp xếp các đại tiểu mục…)
    Được thừa hưởng di sản của nhà tử vi tăm tiếng 1 thời, GS Nguyễn Mạnh Long hẳn đã góp phần vun vén, tái bồi cho khoa mệnh học chưa được xứng ý cho lắm

    7.TỬ VI NGHIỆM Lý – THIêN LƯƠNG
    Chúng ta chưa thấy quyển tử vi nào được giới thiệu nhiều, bàn luận nhiều như quyển Tử vi nghiệm lý của cụ Thiên Lương, kể cả các quyển ấn hành đồng thời hoặc trước đó
    Không phải là ân sủng, đặc quyền. Quyển sách có 1 điểm đặc dị : phát kiến vòng Thái Tuế để nghiên cứu tÍnh tình con người qua lý số. tương lai, những nhà nghiên cứu con người ắt hẳn không thể bỏ qua việc phối hợp tử vi vào các phương pháo và phương tiện khảo cứu sẵn có được
    Tuy rằng trên căn bản, các phát kiến của Thiên Lương không có gì sai lạc ý hướng cổ nhân, nhưng phải coi rằng nó mới lạ và giản dị, dễ hiểu và dễ ứng dụng vào các lá số không sai chạy. Kinh nghiệm đó tác giả không bắt buộc ta phải chấp nhận như 1 tÍn điều. Sự kiện này nếu có dịp tiếp xúc với tác giả, ta sẽ thấy ngay ý tưởng chân thành biểu lộ sự thanh cao, bất vụ lợi của tác giả. Nhưng khi đọc xong, ta vẫn khả chấp như 1 tin tưởng rằng Tử vi không đến nỗi mù mờ, dành đặc quyền cho 1 hạng người nào và cho ta thấy tÍnh lý con người, thời vận hưng khởi hoặc suy tàn để tri thiên mệnh, để biết người biết ta. Hay ho là chỗ đó! Thâm thúy là nơi đó!
    Tác giả đã không minh chứng các điều phát minh 1 cách rÕ ràng làm đa số độc giả khó thâu nhận kịp thời các nguyên tắc lý số, nhưng bang bạc các lá số danh nhận ở phần thứ nhì của tác phẩm vừa giúp kinh nghiệm giải đoán, vừa áp dụng tức thời các nguyên tắc tìm thấy ở phần thứ nhất
    Ước mong rằng quyển TVNL ra đời là nguồn phấn khởi cho bao người còn nặng mang “bÍ kiếp” hãy mau mau cống hiến cho đời kẻo mai một – sự mai một đã được chứng minh cụ thể cho nền học thuật tử vi ngày nay – cho bao người đang lăm le hoặc đã nhúng tay vào nghiệp dĩ lý số có dịp ngắm các khám phá thực tiễn, các nguyên lý tối vi, các kinh nghiệm quý giá để nân cao đất đứng cho môn tử vi, để cởi bỏ lớp áo huyền vi của khoa đẩu số

    8. TỬ VI ĐẨU SỐ TOàN THƯ – VŨ TàI LỤC
    Ngay lời dẫn, dịch giả đã giúp Ích nhiều cho kiến thức của chúng ta về môn Tử vi học và đi đến kết luận rằng, con người dù sao cũng bị số mệnh chi phối và biết số mệnh không phải là vô bổ, là huyễn hoặc, là hạ cấp vì “bất tri mệnh vô dĩ vi quân tử”
    Ở đây ta thấy Vũ Tài Lục dịch và bình chú cuốn TVĐSTT của Trần Đoàn do La hồng Tiên biên soạn, cùng bổ túc them vào Ít khám phá mới của các tác giả khác. Vì thế ta có dịp biết tử vi qua truyền thuyết dân gian mà các sao được gán ghép qua các nhân vật truyện Phong Thần (nhưng nguyên bản Phong Thần, các sao được hình dung qua các nhân vật khác với của dịch giả). Dù là huyền thoại nhưng xem qua cũng thấy hay hay : ta có thể suy nghiệm kết quả các cuộc đấu chiến của các nhân vật trong truyện để luận đoán sao thủ Mệnh gặp sao nào ở vận hạn là khắc chế, thắng bại, tiền hung hậu kiết…
    Dịch giả đưa ra 1 nghi vấn cho rằng trong TVĐSTT chỉ có 85 sao trong khi Tử vi Việt có đến 104 vị. ông cho rằng chỉ sao Đào hoa là có giá trị, còn các sao kia là gượng ép trong khi ông không rÕ do đâu có sự sai biệt lượng số các sao. Thành ra ta phải dung thực tế, dung sự thật để chứng tỏ rằng các sao của Tử vi Việt không phải không có giá trị,chứ không thể căn cứ vào 1 quyển sách nhập cảng để bác bỏ đồ nội hóa vì luật sinh tồn từng hung hồn minh chứng rằng cái gì vô giá trị sẽ bị thải hồi qua thời gian như 1 số sao ta từng thấy, như các sao Mệnh chủ, Thân chủ
    Thiết tưởng sách TVĐSTT ra đời cũng chỉ góp phần vào vườn hoa tử vi thêm 1 loài hoa mới. Chúng ta phải áp dụng để chiêm nghiệm hơn là mặc nhiên chấp nhận như 1 chân thư. Đừng vì 1 lời nói, đừng vì 1 nhãn hiệu mà bài bác, phá hủy công trình nghiên cứu của làng tử vi Việt. “Thức đêm mới biết đêm dài”, “đường dài mới biết ngựa hay” có lẽ áp dụng được vào các mâu thuẫn của quyển sách này với các soạn phẩm tử vi của người Việt

    9. TỬ VI PHú GIẢI – THáI VâN TRìNH
    Hầu hết các quyển tử vi hiện hành, không nhiều thì Ít, cũng có ghi ở phần phụ lục các câu phú của cổ nhân. Tất nhiên các câu phú được sao lục lại đó có thiếu sót
    Và quyển TVPG ra đời nhằm mục đÍch kết hợp các câu phú của mọi hệ phái lý học, giúp cho độc giả đỡ công tìm tòi, truy lục
    Sở dĩ tôi ke quyển TVPG này vào 1 trong 10 quyển sách tử vi hiện đại là vì căn bản xem số của các nhà tử vi đều lấy các câu phú làm tiêu chuẩn ứng dụng vào bản số. Tất cả cho rằng các sách vở hoặc bị ngoại nhân cướp đoạt nên các nguyên tắc về tử vi khó long ghi chép được đầy đủ để lưu tuyền đến nay. Do đó, đa số còn bám vÍu, tin tưởng vào chiếc phao cuối cùng do sự giáo luyện truyền khẩu các bÍ quyết lý số bằng những bài văn dễ nhớ, dễ thuộc : các câu phú vì lẽ ấy được các vị sư phụ chiếu cố kỹ cảng, tìm hiểu thâm sâu để truyền lại cho môn đệ có những miếng nghề tin tưởng hơn các lò khác
    Tuy nhiên, tin vào các câu phú cũng y như sử dụng con dao 2 lưỡi : lợi cũng nhiều mà hại cũng k Ít (Cụ Phong Nguyên đã dẫn giải khá nhiều trên KHHB về các câu phú). Nói như thế để cho độc giả ước định được sự thật của vấn đề không có gì tuyệt đối cả. Cùng 1 câu phú, nhưng 2 ông thầy sẽ giảng giãi khác tùy theo kinh nghiệm giải đoán cũng như trÍ linh mẫn của mỗi người khác nhau. Điều này chúng ta sẽ nhận thấy rÕ rang trong quyển sách trên với lối ghi chú gượng ép, mơ hồ, đôi khi tối nghĩa
    Thái độ dè dặt của ta khi dung sách là điều cần có trước tiên, vì áp dụng phú vào mỗi lá số không phải công việc thay các con số vào công thức của toán học được
    Sách có giá trị ở công trình sao lục chứ chưa bày tỏ được quan điểm của sao5n giả

    10. TỬ VI DƯỚI MẶT KHOA HỌC – VU THIêN NGUYỄN ĐẮC LỘC
    ThiẾU quyển sách này là 1 thiếu sót trầm trọng cho kiến thức hạn hẹp về tử vi của ta hiện tại chỉ thuần về huyền bÍ, vì chưa có ai giải thÍch tại sao con người lại chịu ảnh hưởng mật thiết của các dữ kiện được gọi là “Sao” đó, tại sao ông sao này lại an thế này, ông sao kia lại an thế kia…?
    Sử dụng tử vi ngày hôm nay cũng giống như mình sử dụng chiếc xe hơi, sử dụng hột gạo để nấu cơm, sử dụng căn nhà để ở chứ không quay về nguồn xem cách thức cấu thành chiếc xe hơi thế nào, xem các giai đoạn trồng trọt cây lúa ra sao…
    Tác giả Vu Thiên đơn phương làm công việc về nguồn đó sao cho hợp với quan điểm của Hi Di Trần Đoàn mà không xa rời khoa học hiện đại. ông đã thành công 1 phần công trình nhiêu khê trên
    Việc chấp nhận hay không sẽ là 1 đề tài dài làm tốn bao nhiêu giấy mực của người ham học hỏi, thÍch nghiên cứu trước vấn đề mới mẻ này. Tại tác phẩm, tác giả có những quan niệm về an sao lập số đặc dị hơn các sách mà ta có trong tay. 1 cuộc cách mạng tử vi để thay đổi quan niệm lỗi thời, cũ rich ắt không phải là con đường xa lộ dẫn đến mục tiêu. Bởi 1 vấn đề nho nhỏ là ngũ hành các sao của các môn phái tử vi đương thời còn là 1 hố cách biệt thay huống hồ là công tác trọng đại này
    Tuy nhiên, năm này ta chưa cải cách được thì 10 năm, 20 năm sau giới trẻ chúng ta sẽ lại bắt tay vào công cuộc khám phá nối tiếp công trình của tác giả để khoa học hóa môn tử vi, đưa nó vào chương trình giáo dục văn hóa đặc thù của dân tộc Việt. âu cũng là 1 phương thức cải cách đời sống tinh thần của người VN cho hợp lẽ tự nhiên của tạo hóa mà tác giả đã bắt đầu gieo cuống nó 1 hạt giống rồi vậy

    Qua 10 tác phẩm tử vi, chúng ta vừa phớt qua trên căn bản tổng quát, ta thấy 10 tác giả là 10 quan niệm khác nhau do kinh nghiệm, do bÍ truyền, do sáng kiến của cá nhân. Thành ra khoa Tử vi thật sự chỉ cống hiến cho đời 1-2 khÍa cạnh tầm thường nặng về quyền lợi vật chất, nặng về danh quyền khoa bảng, nặng về cá nhân phù du (ba vạn sáu nghìn ngày là mấy?), và dưới nhãn quan của dân chúng, thầy tử vi được đồng hóa …(thiếu trang)




    SUY TÍNH VỀ 1 Lá SỐ CẦN ĐỔI GIỜ SINH

    THIêN LƯƠNG

    Mấy năm trước đây tôi được thấy số của 1 ông nhưng tôi cứ băn khoăn cố tìm hiểu tại sao với Đại vận 33-42 ở Dậu mà ông ấy lại đạt tới ngôi cao sang với nhiệm vụ đặc biệt quan trọng
    Nhìn vào vị trÍ của Mệnh và Thân thì quả ông là người có tâm huyết luôn luôn cho mình có bổn phận và trách nhiệm phải làm, mọi hành động có tÍnh toán rất là chÍnh đáng. Thái Dương, Thiên Khôi ngộ Triệt cũng thấy phần nào đúng với cặp mắt không phải là tròn xoe có phần nào nhỏ bé, đầu hơi thoa

    Lá số mệnh Thái dương:


    Rồi thời gian trôi qua thấy ông ko6ng phải sinh giờ Dần. Bắt nguồi từ mối hoài nghi ở đại vận 33-42 – vận thắng của ông, tôi lấy giờ Sửu làm giờ sinh, mệnh ông chuyển sang cung Mùi, Thân lui lại cung Dậu. Ở 2 vị trÍ này, ông là người khôn ngoan, trông xa thấy rộng nhưng chẳng đi đến đâu một phần vì Thân ở Dậu đem lại kết quả mỗi hành động chỉ là 1 chữ “khờ” rất lớn thành ra nhiều khi ông tự hỏi : bực quá, sao mình lại làm thế này nhỉ?


    Được Thiên Phủ thủ mệnh, Tử vi đóng Thân là 2 vì sao đắc cách cách cho người tuổi Canh Ngọ như 1 ngôi nhà đúc được người thợ giỏi dựng lên đúng độ lượng xi măng cốt sắt chắc nịch như vạn Lý Trường thành mà tÍnh cách của 2 sao này không phải là người không có tâm hồn cao cả đức độ bao dung
    Có 1 điều trường hợp giờ Sửu thì cung Thê có Vũ Phá, Phá Toái, hóa Quyền chắc nhiều người cho là đáng sợ cho đương số gặp cảnh vua Lê chúa Trịnh, xin ngắm thử trường hợp giờ Dần với Thiên Đồng, hữu Bật, Quốc Ấn, Quả Tú đâu có tầm thường kém tài quán xuyến đảm đang, để lên cân thì bên 8 lạng, bên nửa cân không hơn không kém, có chàng Vũ Phá và dẫu cho Đồng Tú hay Vũ Phá cũng phải đầu hàng trước tuổi canh Ngọ và đều có những sự trục trặc buồn phiền tinh thần cả, trừ trường hợp Tham Lang lúc đó mới khó tránh cảnh than cư Thê

    Thiên Phủ thủ mệnh gặp Đà La nên than hình phải dong dỏng cao, râu tóc rậm rạp, trường hợp ngộ Triệt này vẫn còn 7-8 phần cốt cách của Phủ Đà. ông là người cương nhưng hành động có phần nào nhu (vị trÍ Mênh Thân) đắc Đà La ngộ chế them tứ đức là 1 điều đáng mừng để gỡ gạc cái nghiệp quả Thiên tướng hình Riêu có thể như 1 món nợ vay trả sóng phẳng
    Thân ở Dậu là vị trÍ của người bị thiệt thòi phải hy sinh bởi hắc lờ, khờ dại. Tử Tham là vai trò yếm thế, nhiều khi Kình Dương, Lực Sỹ này cũng dám bốc đồng phụ họa với Vũ Phá để tung hoang 1 phen. Nhưng bản chất chÍnh cống của tuổi canh Ngọ là Tử Vi không cho phép Liêm Sát trong tam hợp cũng bị Thiên Tài nÍu kéo đành phải chùn tay lại

    Thế thì giai đoạn 33-42 phải là cung Tuất với Cự Môn hãm đắc Tả Phù, 1 quần thần lương đống tối cần của Tử Phủ lúc này mới xuất hiện phụ họa them song Long, Phi hổ, hoa Cái, nhất là hỏa Linh đắc địa (dần) với người tuổi Ngọ trên cái thế chÍnh nghĩa sáng tỏ của Thái Dương Thái Tuế

    Ngó đến đại vận 33-42 ở Dậu (giờ Dần) hộ hung tinh Sát Phá Tham hãm lướt qua mặt Tử vi (bổn mạng yếm thế) đi cặp với bộ sát tinh trái cựa (Tham đứng với Kình, Liêm Sát cặp với Linh Tinh, Phá Quân gặp Đại Hao) phụ them bộ Không Kiếp tối hãm, thử hỏi với cách gì đương số leo lên đỉnh cao sang? Vậy thì Thiên Phủ, Tử vi (giờ Sửu) đáo Tuất như trên đã nói phải có Quần thần khánh hội, đắc lực nhất là bộ tả Hữu

    Bước sang giai đoạn 43-52 ở Hợi là cả 1 tấm hình ảnh tóm tắt của đương số. Người tuổi canh Ngọ được Thiên Phủ thủ mệnh, Tử vi thủ Thân còn quý báu gấp bao lần Thái Dương ở Ngọ chẳng qua chỉ là nước sơn phết bề ngoài của 1 pho tượng, huống chi Triệt ở ngay Mệnh thì thử hỏi “Nhật lệ trung thiên” cùng Hóa Lộc còn bao giá trị đành rằng cái bề thế của Thái Tuế có chÍnh đáng hơn?
    Cái hay ở cung Quan, cũng là giai đoạn 43-52 ở hợi như trên đã trình bày tuổi Canh Ngọ ở Mùi là người khôn trông xa thấy rộng, tiếc rằng Thân ở Dậu, vậy thì Thiên Tướng ngộ Tuần như tạo hóa đã xếp đặt có nghĩa là khiêm nhượng còn bao quanh có Tử Phủ Hao Sát, hình Riêu (nghiệp quả) thiết tưởng chỉ còn con đường Tử Tham Hồng Loan với Thiên Không là thÍch đáng nhất đưa đến chỗ thành công đắc đạo



    NHỮNG Lá SỐ BẤT ĐẮC KỲ TỬ

    GS KÍNH THIêN


    Đã từ lâu quý vị trong Ban giám đốc KHHB khuyến khÍch và yêu cầu chúng tôi viết các kinh nghiệm về tử vi. Chúng tôi đã cố gắng sưu tầm các lá số đặc biệt, ghi chép ngày giờ sinh của những người quen và than nhân không may mệnh yểu chết vì tai nạn hoặc chiến sự để rút kinh nghiệm
    Trên thực tế, tất cả mọi người khi chấm lá số cho mình hoặc nhờ người khác giải đoán chỉ muốn biết những điểm hay, chỉ ao ước những điều tốt đẹp…Í tai dám đặt câu hỏi :”Tôi có vào tù không? Có bị tai nạn chết chóc không?”

    Trong bảng chÍnh tinh, chúng ta có các sao Sát Phá Liêm Tham và Nhật Nguyệt (lúc bị lạc hãm) và các sao hung ám như : Kình Đà, lưỡng Không, lưỡng Kiếp, Tuần Triệt, Binh, bệnh Phù, Riêu, tang hổ, Linh hỏa, Khốc HƯ, Kỵ, Tuế Phá, Thiên hình, Đẩu quân, thương Sứ, Lưu hà, Mộc Dục nếu gặp Đại tiểu hạn có nhiều sao trên hội chiếu có thể đem đến các tai họa : mất của, kiện tụng, hình thương, chết vì tai nạn, tùy theo sự phối hợp và cổ nhân đã đặt thành ca phú cho con cháu sau này rút kinh nghiệm, vÍ dụ:
    - Kiếp Không gian vay quanh co
    Đề phòng kẻo phải lộ đồ Khảm Kha
    (cụ Kim Xuyên lão nhân ở Dalt giải nghĩa là : ra ngoài phòng trộm cắp hoặc tai nạn dọc đường)
    - Kình Đà bị bệnh phòng môn
    Tuế Đà đối tụng công môn chiêu nàn
    Hỏa Linh Trì Mộc cùng soi
    Lánh mình tất cốc (?) nước nôi tai nàn
    (cụ Kim Xuyên ghi chú về chữ “cốc” : gong cùm, tù tội)

    Rải rác qua nhiều câu Phú đoán của cụ Lê Quý Đôn, Phú ma Thị….còn nhiều câu tiền nhãn để lại lưu ý đến các trường hợp bất hạnh của con người

    Qua 30 năm trời lăn lộn trong đời sống chiến tranh, tao loạn, người viết đã trải qua nhiều nổi thăng trầm vào từ ra khám, bị vu khống gieo vạ, ai nạn máy bay xe cộ, người than chết vì tai nạn chiến sự, nếm đủ mùi mọi đắng cay. Đến nay đầu điểm 2 thứ tóc, quá nửa đời người từng trải, nhiều đêm thao thức nhẩm tÍnh lá số của mình, của bạn hữu, kiểm điểm các vận hạn đối chiếu với các cách cổ nhân truyền lại thấy rằng : Số mệnh an bài khó cưỡng

    Nhân dịp đi Phan Thiết thay thế tạm thời 1 đồng nghiệp trong cơ quan có người em tử nạn máy bay hàng Không VN (cùng chuyến với cố đại tá Bùi Quý Cảo), người viết có hỏi dò ngày sinh của thiếu nữ tử nạn:
    Dương Nữ Mậu TÍ, sinh giờ TÍ ngày 15/5” : Thân Mệnh đồng cung tại Ngọ có Cự Tuần với nhiều hung tinh hội chiếu như Linh Hỏa, Kình Kỵ, Khốc hư, tang Điếu, nhất là Kình Dương tại Ngọ gặp Linh hỏa hội chiếu chủ về bất đắc kỳ tử. Đại hạn 26-35 tại Thìn (hạn La VÕng Nhật Nguyệt hãm gặp Linh Kị Đà, Bạch hổ Tử), lưu niên 27 tuổi tại cung Tuất cũng bị cách Nhật Nguyệt hãm La VÕng, Kình Đà Linh Hỏa Tang Điếu Khốc hư Tuế Phá. Tiểu hạn năm Dần gặp tang môn lưu, trùng phùng Tang Hổ, hỏa Kị Đà lại them sao Tử. Bao nhiêu sao hung sát dồn lại ở các cung mệnh Thân, Đại Tiểu hạn, Phúc đức nên làm sao thoát khỏi ách tử thần



    Những chiều mưa gió tại Phan Thiết, người viết được hạnh ngộ 2 nhà tử vi ẩn danh (2 vị công chứ tại tòa án và Tòa hành chÍnh). Nhân thảo luận về các lá số bất đắc kỳ tử, 1 vị đưa cho xem cuốn sổ tay ghi chú về lá số của Đại tá Bùi Quý Cảo (đúng như cụ Thiên Lương đã đăng trong KHHB số K-2 gần đây), 1 vị đã ghi chú các cách đáng ngại về tai nạn có thể xảy ra cho cố Đại tá:
    - Mệnh tại Tị gặp Cự Kỵ tang HỔ hình Riêu, Khốc, tướng quân ngộ Triệt giáp Không Kiếp. Đại tiểu hạn cùng đi đến ách có các sao : Phá Quân hội Tuần Triệt, hỏa Kình Không Kiếp Song Hao. Bậc lão thành Tử vi còn phê bằng bút chì sau lá số 2 câu phú sau đây :
    1. Phá Sát khủng phùng Hỏa Hao mạc ngộ Việt Hình tao hạn quỷ thần họa nghiệp bại
    2. Phá Liêm ngộ Hỏa thiêu Tử vô nghi- Tham Kỵ phùng Riêu thủy tai mặc thoát
    ChÍnh cố đại tá cũng đã được báo trước biến cố có thể xảy ra cho đời mình nên đã đến thăm nhiều danh sĩ về Tử vi để luận bàn các cuộc tương lai
    Nhưng số mệnh an bài, dù có biết trước trong lòng chỉ thêm lo âu khắc khoải. Đến ngày Trời gọi về cũng phải tuân theo. Nhắm mắt xuôi tay, sinh ký tử quy, ai chả 1 lần ra đi

    Cho nên, khi luận bàn về Tử vi, nghiên cứu Tử vi, kẻ hèn này cũng luôn luôn hướng về đời sau, mình tự nhủ mình : cuộc đời vẫn nằm trong sự an bài của Thượng Đế, miễn là lòng mình luôn hướng thượng, tìm mọi cơ hội để làm việc thiện và đến khi từ biệt cÕi đời tạm này, mình không có gì hổ thẹn với lương tâm
    Sửa bởi PIANO: 20/11/2011 - 04:41 PM
     

Chia sẻ trang này

Trạng thái chủ đề:
Không mở trả lời sau này.