Các loại hình của tướng thuật

Thảo luận trong 'Hiểu về Thiên Cơ + Nắm Bắt Vận Mệnh Để Chiến thắng Số Mệnh Tốt nhất' bắt đầu bởi cabachlong, 24 Tháng bảy 2006.

  1. cabachlong

    cabachlong New Member

    Tham gia ngày:
    20 Tháng bảy 2006
    Bài viết:
    1,223
    Điểm thành tích:
    0
    (Trích lục bài viết của Điêu Thuyền từ giao diện cũ.)


    Phương pháp xem tướng đều thông qua việc quan sát kỹ lưỡng để dự báo cát hung họa phúc, ở đây chỉ xem xét và quan sát các loại hình của tướng thuật. Về đối tượng được nghiên cứu bao gồm 3 loại là hình thể, mạch và vật thể, từ đó phân tướng thuật làm ba loại là hình tướng, mạch tướng và vật tướng.
    1. Hình tướng

    Người ta thường nói tướng thuật, kỳ thực là chỉ hình tướng. Hình tướng là qua việc quan sát các bộ vị của thân thể và sự biến hóa tương quan giữa chúng để dự báo cát hung. Đó là nội dung chủ yếu của tướng thuật mà chúng ta thường nói tới. Tướng thuật cho rằng “mệnh người do thiên bẩm và biểu lộ ra ở hình thể”. “Tính mệnh lộ ra ở hình cốt, cát hung thể hiện ở khí mạo”, “phàm giữa mệnh và tướng giống như âm thanh và tiếng vang. Âm thanh từ mình phát ra, tiếng vang liền ứng theo, tuy mọi người thọ yểu khác nhau, hiền ngu không giống nhau, nhưng quy luật chung là có thể biết được”. “Bởi vì thân thể không lúc nào không biểu lộ ra những dấu hiệu của sinh mệnh”, “cho nên các thánh hiền thời xưa thường xem hình mạo để biết tính chất, biết tính chất thì hiểu rõ cái tâm, hiểu rõ cái tâm thì biết cái đạo. Quan sát hình mạo sẽ thấy cát hung rõ ràng. Vả lại Phục Hi có nhật giác, Hoàng Đế có long nhan (mắt rồng) Thuấn có hai con ngươi, Văn Vương có bốn vú, đều là tướng của người xưa, thể hiện ra như vậy, là thánh nhân vậy. Còn tất cả mọi người hiền ngu khác, cũng đều thể hiện ra ở mọi dấu hiệu nhỏ bé ở bàn tay, ngón tay, không ai ra khỏi quy luật chung đó. Vì vậy, thuật xem tướng hình thần bắt đầu được xây dựng nên”. (“Thái thành thần giám” – Tự). Rõ ràng, thông qua hình thể để phân biệt thiện ác cát hung là phương pháp và nội dung cơ bản của hình tướng. Sự quan sát hình thể nhằm mục đích vạch ra thiện ác và tính tình, sự thiện ác của tính tình là cơ sở của cát hung.

    Nếu hình tướng lấy nhân thể làm đối tượng quan sát, thì mọi bộ vị của thân thể có thể là dấu hiệu biểu lộ ra, như xương khớp, da thịt, lông mày, râu ria, lông tóc, trán má, mắt, mũi, miệng, môi, răng, lưỡi, tai, cổ vai nách, lưng, vú, bụng, eo lưng, rốn, hậu môn, tứ chi, tay, chân, bàn tay, ngón tay, móng tay, móng chân, khí quan sinh dục, tinh thần khí sắc, bởi lẽ cử chỉ cho tới việc đại tiểu tiện đều là những cái bao hàm xâu xa liên quan tới số mệnh khác nhau và trở thành đối tượng quan sát. Thoạt nhìn qua hình thái người ta khác nhau, nhiều biểu hiện rối rắm phức tạp, nhưng trên thực tế đều có dấu hiệu để nắm bắt, đều có ý nghĩa. Chỉ cần nắm vững quy tắc vận động của hình thái có thể hiểu rõ được điều đó, có thể vạch ra những thông tin về số mệnh làm chứa trong đó. Trong con mắt nhà tướng thuật, sự huyền bí của tướng thuật chỉ là do dân chúng nói chung không hiểu được các “mật mã” chỉ thị số mệnh mà thôi. Trình độ cao thấp của các nhà tướng thuật biểu hiện ở sự thông hiểu các “mật mã” đó và trình độ thao tác của họ.

    Ban đầu, sự quan sát và bình luận của các tướng thuật gia đối với các bộ vị của hình thể tương đối thô sơ và giản đơn. Cuốn “Tướng pháp thập lục thiên” thác danh Hứa Phụ chỉ căn cứ vào 14 bộ vị cụ thể của thân thể người và 2 mặt hành vi, tiếng nói để bình phán về số mệnh con người, vả lại mỗi điều lại riêng rẽ, không liên quan bổ trợ cho nhau. Ngoài ra, các thầy tướng mỗi người lại chỉ chú trọng đến những bộ vị khác nhau, như vậy tất nhiên sẽ dẫn tới kết quả là do biểu trưng ở các bộ vị của mỗi con người khác nhau nên sẽ suy ra những kết luận về số phận khác nhau nên sẽ suy ra những kết luận về số phận khác nhau, và không thể nào phản ánh được những sai khác nhỏ bé trong số phận giữa người này với người khác và sự chìm nổi, biến hóa trong số phận của một con người nên không thể kết luận cho tròn trĩnh được. Thế là, hình tướng rất nhanh chóng phát triển theo ba hướng. (1) Sự đi sâu, chia nhỏ trong cơ cấu các bộ vị của cơ thể. Sau này, hình tướng không giản đơn lấy sự khác biệt đại khái của một bộ vị nào đó để làm căn cứ phán đoán số mệnh nữa, mà tiến hành quy nạp, phân loại, coi chúng nằm trong hệ thống lớn và hệ thống nhỏ có tầng thứ rất chi tiết, nội dung rất phong phú. Như về mặt chia ra làm 13 bộ vị, thuộc về một hệ thống lớn. Riêng về tai đã chia ra hơn 20 loại có quan hệ đến số mệnh, thuộc một hệ thống nhỏ. Sự phối hợp liên hệ giữa hệ thống lớn và hệ thống nhỏ đã giải quyết được những sai biệt nhỏ về số mệnh giữa người này với người khác. Sự bình phán về số mệnh đã từ chỗ giản đơn phán đoán về thọ yểu, sang hèn phát triển thành sự dự báo về hoạn lộ, nắm được thăng tiến, tật bệnh, sinh đẻ, gia đình, họa phúc, ăn uống, đi xa, v.v…, hầu như trình bày hết mọi nội dung sinh hoạt của một đời người. (2) Sự chỉnh thể hóa các bộ vị của hình thể. Lúc ban đầu, tướng thuật không xem cả toàn thân để dự đoán số mệnh. Có người thiên về xem tướng mặt, có người thiên về xem cốt tướng …. người nào theo thuyết của người đó, thành nhiều chi phái. Sau này phát triển lên, tướng thuật ngày càng chặt chẽ, đại đa số thầy tướng không còn xem xét cô lập một bộ vị để dự đoán số mệnh nữa mà coi mọi bộ vị trong hình thể là một thể thống nhất hữu cơ, mỗi bộ vị có tác động chủ yếu hoặc thứ yếu đến số mệnh và chi phối những mặt khác nhau của số mệnh. Việc xem hình tướng cũng theo thứ tự nhất định, tức là trước hết xem xương khớp, sau đến tam đình rồi đến mặt và khí sắc …. gọi là “thập quan pháp”. Sau cùng tổng hợp mọi biểu trưng bên ngoài rồi dự đoán số mệnh. Như vậy, giải quyết được vấn đề những hình tướng khác nhau, sẽ có số mệnh khác nhau. (3) Động thái hóa sự giải thích số mệnh. Hình tướng của con người là một đặc trưng sinh lý suốt đời biến đổi rất ít. Lấy đó mà bàn mệnh vận, tất nhiên sẽ dẫn tới tình trạng “cứng đờ”, chỉ thấy mệnh mà không thấy vận, mà trên thực tế thì mệnh vận con người không ngừng biến hóa. Vì vậy, tướng thuật lại đề xuất ra thuyết về khí sắc, tức là căn cứ vào màu sắc đỏ, vàng, xanh, đen, tía, trắng biểu hiện ở các bộ vị khác nhau trên mặt để suy đoán họa phúc cát hung trước mắt và lâu dài về sau. Đồng thời lại xây dựng nên thuật số “lưu niên vận khí” và phối hợp cái đó với mệnh tướng của các bộ vị trên hình thể. Đặc trưng bộ vị quyết định số mệnh chung, còn khí sắc quyết định sự biến hóa cụ thể của cát hung họa phúc trong một phạm vi thời gian không gian. Do đó mà tạo nên thuyết vận mệnh vừa tương đối ổn định, vừa biến hóa vô cùng. Như vậy là, cuối cùng họ đã cho xây dựng được một học thuyết trọn vẹn, không còn kẽ hở, giải quyết được toàn bộ khó khăn của tướng thuật.

    Do hình tướng là chủ thể của tướng thuật nên mọi người thường coi hình tướng là toàn bộ tướng thuật. Để tiện theo dõi, những phần viết tiếp theo vẫn coi hình tướng là nội dung chủ yếu của tướng thuật để phân tích và đánh giá.

    2. Mạch tướng

    Mạch tướng cũng còn gọi là Thái Tố mạch là một loại phương thuật thông qua sự biến hóa về mạch trong cơ thể người để dự báo cát hung họa phúc. Vì thông qua phương pháp chuẩn mạch của Trung Y để đạt tới mục đích đó nên nó coi là một loại tướng thuật đặc biệt. Về nguồn gốc của mạch Thái Tố, hiện nay vẫn còn nhiều thuyết khác nhau, nhưng thuyết được nhiều người nhất trí nhất thì cho rằng Trương Thái Tố, người ở Thanh Sơn thời Minh được một vị ẩn giả bí mật truyền cho, rồi ông thực nghiệm nhiều lần, chỉnh lý lại và lưu truyền ra. Thái Tố có viết cuốn “Thái Tố mạch bí quyết” gồm hai cuốn thượng và hạ. Phương pháp mạch Thái Tố mà ngày nay ta được biết là nhờ ở cuốn sách đó. Trương Thái Tố cho rằng, sự thay đổi về mạch đạp của con người là cùng một nguyên lý với ngũ hành bát quái, Hà đồ Lạc thư. Chỉ cần nắm vững bí quyết của mạch Thái Tố thì không những có thể chuẩn bệnh cho người ta mà còn có thể dự đoán mệnh vận. Tương truyền, Thái Tố mạch pháp linh nghiệm dị thường, không những có thể dự đoán mọi điềm cát hung, suốt cả đời người, mà còn có thể căn cứ vào mạch tướng của cha để dự đoán tiền đồ vận mệnh của con nữa.

    Căn cứ vào nguyên lý chuẩn mạch của Trung Y, mạch quyết Thái Tố quy nạp sự biến hóa của mạch tướng con người thành “ngũ dương mạch”, “ngũ âm mạch”, “tứ doanh mạch”.

    Gọi là “ngũ dương mạch” tức là năm loại mạch tướng: phù, hoạt, thực, huyền, hồng, Thái Tố mạch quyết nói:

    “ Phù là mạch nhẹ và ở bên trên, ẩn hiện hoãn tán, như nước làm nổi vật lên, ấn mạnh xuống thì không thấy, để nhẹ tay thì thấy rõ, càng nhẹ càng thấy mạch, rõ rành ở đầu ngón tay. Nếu tam bộ đều phù, thì tâm khí bất túc.

    Hoạt, là mạch không có đầu nối như chuỗi hạt liên tục, ấn mạnh tay thì càng mạnh, thấy rõ ở đầu ngón tay. Để nguyên tay thì thấy mạnh hơn mạch hồng. Nếu tam bộ đều hoạt thì can khí bất túc.

    Thực, là mạch ngược với hư. Nguồn mạch lâu dài không dứt, đặt nhẹ tay thì mạch rõ, ấn mạnh tay thì thấp thoáng như mạch huyền, nhỏ hơn mạch hồng. Nếu tam bộ đều thực thì là tì khí không đủ.

    Mạch huyền là ấn tay xuống thấy căng như dây đàn, ấn mạnh thì đập vừa phải, ấn nhẹ thì càng gấp, mạch tụ mà không tán, để lâu vẫn không thay đổi. Nếu tam bộ đều huyền, thì phế khí không đủ.

    Hồng, là mạch lớn, có nguồn sâu, dòng dài, ấn tay xuống tìm mạch, thấy không huyền không phù, ấn nhẹ ấn nặng đều như vậy. Nếu lại tìm nữa thì bỗng thấy mạnh. Nếu tam bộ đều hồng là khí bất túc”.

    Năm hiện tượng phù, hoạt, thực, huyền, hồng là dấu hiệu của “Ngũ dương mạch”. Chủ yếu khác nhau về mức độ nặng nhẹ, sâu nông. Như mạch phù là “nhẹ thì có nhiều, nặng thì có ít”, mạch hồng là “không huyền không phù, nặng nhẹ đều có” ….

    Gọi là “ngũ âm mạch” tức là bốn loại mạch: vi, trầm, hoãn, sắc.

    Thái Tố mạch quyết nói:

    “Mạch vi là mạch rất nhỏ và yếu, ấn mạnh tay để tìm thì thấy như sợi tóc, thấp thoáng ẩn hiện, như trạng thái nửa có nửa không. Nếu tam bộ đều vi, thì là huyết trệ và thần bất túc.

    Mạch trầm, như hòn đá ném xuống nước chìm xuống tận đáy, ấn mạnh tay để tìm thì phảng phất thấy. So với mạch vi, thấy mạch này hiện chậm trên xương. Nếu tam bộ đều trầm, thì là vị (dạ dày) nghịch và khí bất túc.

    Mạch hoãn, như sợi tơ trong máy không cuốn vào trục, ấn ngón tay thì thấy hoãn, xê dịch thì thấy vi, nhưng lại không gấp bằng vi, không trầm không phục đó là hoãn. Nếu tam bộ đều hoãn thì là thận yếu và tinh không đủ.

    Mạch sắc, là trệ mà không hoạt, dưới ngón tay như có cát chìm, như dao vót tre, trầm mà thô, ấn nặng thấy động vào ngón tay, ấn nhẹ thì như không có; trước thực sau hư lặp lại không ngừng. Nếu tam bộ đều sắc thì hồn không đủ.”

    So sánh với năm dấu hiệu của “ngũ dương mạch” thì “ngũ âm mạch” tỏ ra yếu ớt nhỏ nhoi, mặt khác “ngũ dương mạch” lấy huyết khí của các bộ vị khí quan làm đối tượng chuẩn đoán, còn “ngũ âm mạch” lại lấy tinh thần hồn phách của toàn thể con người làm mục đích kiểm tra. Do đó thấy rằng “ngũ âm mạch” nhỏ yếu khó tìm, song lại rất quan trọng, nếu tinh thần hồn phách của một con người trầm trệ bất túc, thì hình thể cũng sẽ khô xác.

    Gọi là “tứ doanh mạch”.

    Thái Tố mạch quyết nói: Tứ doanh là nhẹ nặng và đục, là âm. Phàm muốn biết sự sang hèn, giàu nghèo, thọ yểu của con người thì phải tìm trong tứ doanh mạch.

    “Người có mạch khinh (nhẹ) thấy như ngón tay sờ vào ngọc, thuần túy ôn nhuận, là người có trí thức minh mẫn, lộc vị quyền quý.

    Người có mạch thanh (trong), thấy phẳng lặng trong và nổi, như lông vũ nhẹ, không trầm không lắng, luôn thấy đập nhẹ.

    Người có mạch trọng (nặng) thấy hoãn và thô, lấy tay ấn xuống thấy mạch đục, mạch đục thì khí cũng đục.

    Người có mạch trọc (đục) thấy đục, trầm mà căng lại ẩn có trọng trọc, cũng cần xem xét bản nguyên của nó”.

    “Tứ doanh mạch” xem ra có tính tổng hợp, tổng quát. Sau khi hiểu sâu hai loại mạch “ngũ dương”, “ngũ âm”, còn cần phải đánh giá nghiên cứu tình hình nhẹ nặng trong đục của nó, sau đó mới có thể tổng hợp dự đoán trạng thái vận động của sinh mạng và từ đó suy ra xu hướng sang hèn, giàu nghèo, thọ yểu của mệnh vận. Do đó, “tứ doanh mạch” là hết sức quan trọng.

    Mạch Thái Tố lấy “ngũ dương mạch”, “ngũ âm mạch” làm cơ sở, lấy “tứ doanh mạch” làm hệ quan chiếu đánh giá, rồi lại tham hợp mạch tướng nam nữ và tiêu chuẩn giá trị của tướng lý, là có thể chỉ ra tiền đề mệnh vận của một cá nhân. “Thái Tố mạch bí quyết nói rằng: “Mạch Thái Tố, lấy việc nhẹ trong hay nặng đục để bàn về mệnh. Nhẹ trong là dương là giàu sang, nặng đục là âm, là nghèo hèn. Đàn ông lấy bộ can mộc làm chủ, quyết định công danh cao thấp, đàn bà lấy vị phế kim đoài làm chủ, quyết định việc phúc đức. Còn như nhẹ trong, như ngón tay sờ ngọc, thấy thuần túy ôn nhuận, đập vào đầu ngón tay rõ ràng, lục mạch (sáu mạch) không khác nhau. Như dòng chảy liên tục không đứt đoạn, dù có tật nhỏ, vẫn trong không đục, chủ về người có bản tính xung hòa, trí thức minh mẫn, lộc vị cao, đó là mạch trong nhẹ. Mạch nặng đục thì đập vào ngón tay không rõ ràng, như vung cát khô khắp đầu ngón tay, trước lớn sau nhỏ, số lần ngưng nghỉ hỗn tạp, khắc với bản thân, đó là mạch nặng đục, ấn ngón tay xem xét kỹ, không lần nào sai”. Đoạn văn trên nói rõ thực chất của tướng pháp theo mạch Thái Tố.ớng pháp mạch Thái Tố chủ yếu lấy bốn loại mạch nhẹ trong nặng đục làm phép tắc cơ bản để bàn về tướng người. Người có mạch tướng nhẹ trong là sang người có mạch tướng nặng đục là hèn. Nam giới chủ yếu cần nắm can mạch, theo đó để phán đoán công danh phú quý « nếu tam bộ đều hoạt, là can khí bất túc » đó là điều kỵ với mạch tướng đàn ông. Nữ giới chủ yếu cần nắm phế mạch, do đó có thể phán đoán phúc phận. « Nếu tam bộ đều huyền là phế khí không đủ », đó là điều kỵ với mạch tướng của đàn bà.

    Mạch Thái Tố dung hợp cả mạch lý của Trung Y và các yếu tố văn hóa âm dương ngũ hành, Hà đồ, Lạc Thư, rồi dùng tiêu chuẩn giá trị của tướng lý để đối chiếu, phát huy tỏ rõ đặc trưng hòa trộn vào nhiều thành phần văn hóa. Vì loại tướng thuật này lấy tên chính là chuẩn mạch của Trung Y nên càng dễ thu hút mọi người, khiến mọi người tin tưởng, đã từng lưu hành rộng rãi trong thời Minh và nổi danh là không sai bao giờ.

    3. Vật Tướng

    Trong lịch sử tướng học có một loại xem tướng dựa vào việc quan sát những đồ vật có liên quan đến con người để dự đoán cát hung quý tiện của người đó. Môn đó gọi là Vật Tướng.

    Tướng thuật giống như một cây có nhiều cành lá, sinh ra nhiều môn phái khác nhau, nên nhiều người nghiên cứu tướng thuật cho rằng nếu như hình mạo đã có thể tỏ rõ quý tiện cát hung thì những vật phẩm gần gũi với con người cũng có thể tỏ rõ thị hiếu, tính tình của con người và đương nhiên cũng có thể căn cứ vào những vật đó để dự đoán cát hung.

    Ngoài việc liên tưởng từ hình mạo, sự ra đời của môn vật tướng còn có liên hệ mật thiết với tục « vật chiêm » của người thời cổ. « Vật chiêm » là thông qua cảnh vật tự nhiên để dự đoán cát hung. Tục này đã được ứng dụng rộng rãi trong dân gian trong mọi thời kỳ lịch sử ở Trung Quốc. Vào thời Hán đã có thuật xem tướng gió, căn cứ vào hướng gió, sức gió và thời gian gió thổi để đoán cát hung. « Thái Bình ngự lãm » quyển 9 đã trích ghi bài « Tướng phong phú » của Trịnh Huyền và bài « Tướng phong phú » của Trương Hoa, tức là coi gió cũng có điềm lành và điềm gở. « Thái Bình ngự lãm » quyển 872, mục điềm lành có nói : « Phù Thụy đồ » nói : Tướng phong là gió tốt, còn gọi là cảnh phong. Mùa Xuân thì phát sinh, mùa Hạ thì mạnh đủ (tưởng doanh), mùa Thu thì Thu tàng, mùa Đông thì an ninh ». Phần điềm gở dẫn Sử ký : « Cuối đời Ân Trụ, gió lớn thổi xiên bò ngựa, làm đổ nhà bật cây, tràn lan mấy chục dặm. Chu bèn diệt Ân ». Theo nhìn nhận của người xưa thì gió, núi sông... mọi vật tự nhiên đều hàm chứa điềm lành điềm gở, chỉ có điều chưa được người ta hiểu mà thôi. Con người với tư cách là vạn vật chi linh, sống trong thế giới vật chất này, đem những điềm lành, gở của các sự vật, hiện tượng liên quan đến con người gán vào cho con người, đó là thành quả tư tưởng của các Vật tướng gia.

    Vật tướng còn phân loại các vật phẩm khác nhau để xem tướng như xem tướng Ấn, xem tướng Chữ, xem tướng Tên, xem tướng Hốt...

    Phép xem tướng Ấn là phương pháp căn cứ vào quả ấn và những chữ triện khắc trên ấn chương để đoán cát hung họa phúc. Người đầu tiên đề ra phép xem tướng này, hiện nay chưa có kết luận nhất trí. « Thái Bình ngự lãm » quyển 683 dẫn « Tướng ấn thư » : « Phép xem tướng Ấn, vốn do Trần Trường Văn đề ra... đoán cát hung đúng tới 8, 9 phần. Trọng Tướng hỏi Trường Văn học phép này ở ai, Trường Văn trả lời : « gốc từ thời Hán », lại dẫn « Tướng Ấn kinh » : « Ấn có 8 góc hoặc 12 góc. Ấn cần phải vuông vắn, trên ổn dưới phẳng, sáng láng sạch sẽ, như vậy thì đều lành ». Về những trước thuật về phép xem tướng ấn, ngoài hai cuốn « Tướng ấn thư » và Tướng ấn kinh » mà « Thái Bình ngự lãm » dẫn ra, « Tùy thư – Kinh Tịch chí » có ghi chép : « Tướng bản ấn pháp chỉ lược sao của Vĩ Thị và « Trình Thâu Bá tướng ấn pháp » mỗi cuốn gồm một quyển, nhưng đều đã thất lạc.

    Phép xem tướng Chữ, còn gọi là « chiết tự », trắc tự ». Phương pháp này chia chữ ra các bộ phận rồi ghép vào chuyện nhân sự để đoán cát hung. Sách « Hữu Đài tiên quán bút ký » thời Thanh viết : « Thuật chiết tự, xưa gọi là xem tướng chữ, thời Tống có Tạ Thạch (xem Hà Cư « Xuân chư kỷ văn », thời Minh có Trương Thừa Tra (xem « Lưu Tích phi tuyết lục »). Phương pháp xem tướng là tùy ý nêu ra một chữ, rồi suy diễn sự liên quan mà đoán cát hung. Bí quyết của phép xem tướng chữ có lẽ là ở chỗ suy diễn sự liên quan mà đoán cát hung. Với thầy tướng đoán chữ, đó là việc sau khi phân tích chữ, suy đoán ra sự cát hung của khách xem tướng. Những thầy tướng giỏi xem tướng chữ có nhiều, trong đó, nổi tiếng hơn cả là Tạ Thạch, Chu Sinh đời Tống, Trương Thừa Tra thời Minh, Phạm Hành thời Thanh.

    « Tạ Thạch (Nhuận Phu) là người Thành Đô. Khoảng năm Tuyên Hòa, đến kinh sư, dùng phép xem tướng chữ để nói họa phúc của người. Người cần xem tướng chỉ cần tùy ý viết ra một chữ, ông sẽ phân tích chữ đó để nói, không lần nào là không nói đúng một cách kỳ lạ. Danh tiếng động đến Cửu trùng (nhà vua), Thượng hoàng liền viết một chữ « Triều », sai Trung Quý nhân đem tới cho Tạ Thạch xem. Tạ Thạch nhìn chữ, rồi ngắm Trung Quý nhân và nói : « đây không phải là chữ của nương nương, song cái nghề mọn của Tạ Thạch này, căn cứ vào chữ mà nói thì hôm nay chịu ơn tao ngộ là ở chữ này. Chữ « Triều », phân tích ra là 4 chữ thập nguyệt thập nhật (mùng 10 tháng 10), nếu không phải là bậc người trời sinh vào ngày tháng này (tức Thượng Hoàng Tống Triết Tông) thì còn ai viết vào đây nữa ? ». Mọi người có mặt cả kinh, Trung Quý nhân trở về tâu lên. Ngày hôm sau, Tạ Thạch được triệu vào hậu uyển, vua lệnh cho tả hữu và cung phi viết chữ đưa cho Tạ Thạch xem, ông nói đều rất chính xác. Hoàng đế ban thưởng rất hậu và phong làm Thừa Tín lang. Từ đó, bốn phương tìm đến xem tướng, ngoài cửa lúc nào cũng đông như chợ ».

    Lại căn cứ vào sách « Lưu Tích phi tuyết lục » nói : Gần đây, những người chiết tự để đoán cát hung, không ai bằng Trương Thừa Tra, ông căn cứ vào chữ, vẽ thành quẻ rồi nói chứ không cần làm gì khác. Đầu niên hiệu Hồng Vũ, có hai ông tham tri chính sự là Lưu công và Vương công đến Triết Giang, đổi Củng Bắc Lâu thành Lai Viễn, rồi yết bảng lên. Thừa Tra đến xem rồi nói : « Nội ba ngày sẽ có việc tang ». Quả nhiên, ba ngày sau, mẹ của Vương công ốm chết. Vương công hỏi nguyên do, Thừa Tra nói : Chữ « lai » có hình chữ « tang », chữ « viễn » có hình chữ « ai », hai dấu chấm bên cạnh là « lệ điểm » (dấu nước mắt) vậy ! Vương công nhờ Thừa Tra đổi chữ khác, liền đổi thành Trấn Hải Lâu.

    Tóm lại, xét về tính chất, laọi vật tướng này mang nhiều tính chất bói toán, so với tướng thuật chân chính (tức hình tướng), có khoảng cách rất xa.




    ( Trích lược theo Đại điển tích văn hóa Trung Hoa – phần « Bí ẩn của Tướng thuật » của tác giả Vương Ngọc Đức & Trần Hưng Nhân.)
     

Chia sẻ trang này