Nạn nhân của bác sĩ Ngyễn Mạnh Tường sinh giờ nào?

Thảo luận trong 'Bài viết cua nick vulong' bắt đầu bởi VULONG, 22 Tháng mười một 2013.

  1. VULONG

    VULONG Member

    Tham gia ngày:
    19 Tháng ba 2011
    Bài viết:
    95
    Điểm thành tích:
    6
    Nạn nhân của bác sĩ Ngyễn Mạnh Tường sinh giờ nào?

    Manhattan đã viết trong mục Tử Vi bên trang web tuvilyso.org:
    “Có người tìm được lá số của nạn nhân vì chị nhờ xem số trên 1 diễn đàn, cháu quote lại:

    jeta1080 said:
    Xin nhờ các thầy tư vấn giúp tôi

    Tôi tên là Lê Thị Thanh Huyền, Nữ, sinh ngày 22/4/1974 dương lịch lúc 13h10.

    Thông tin thêm:
    - Tôi là con trưởng trong gia đình, dưới tôi còn 2 em trai
    - Tôi bị bệnh dạ dày, rụng tóc từ năm 2001
    - Tháng 7/1991 tôi đỗ đại học
    - Tháng 8 âm lịch năm 1998 tôi lấy chồng.
    - Ngày 25/12 âm lịch năm 1999 tôi sinh con trai đầu lòng (tức ngày 31/1/2000 dương lịch)
    - Ngày 27/4 âm lịch năm 2005 tôi sinh con trai thứ hai
    - Năm 2005 cho đến nay chồng tôi có nhân tình, nhưng chúng tôi vẫn chưa ly hôn

    Tôi muốn nhờ các thầy tư vấn về công việc vận hạn và cuộc sống với chồng tôi, liệu chúng tôi có tiếp tục chung sống được không

    Cảm ơn các thầy rất nhiều

    Read more: http://tuvilyso.org/forum/topic/178...he-nghiep-tro-thanh-giet-nguoi/#ixzz2lIXiZJeZ
    TuViLySo_Org”.

    Nếu người phụ nữ này sinh vào giờ Mùi thì tổng điểm hạn năm 2013 chỉ có 4,41. Số điểm này là quá thấp không thể chấp nhận được (vì 5đh mới có thể gây ra tử vong). Vì vậy ta phải xét đến nạn nhân này sinh vào giờ Ngọ.

    Sơ đồ tính điểm hạn giờ Ngọ như sau:
    [​IMG]

    Theo sơ đồ trên ta thấy Tứ Trụ này Thân nhược mà Quan Sát là kỵ vượng nên dụng thần đầu tiên phải là Kiêu Ấn / Canh tàng trong Tị trụ ngày.Tai họa xẩy ra vào tháng 10 (Tuất) năm 2013 (Quý Tị) thuộc đại vận Giáp Tý và tiểu vận Mậu Dần.
    Canh dụng thần vượng ở lưu niên có -1đh.
    Nhật can Quý nhược ở lưu niên có 0đh.
    Đại vận Giáp Tý thiên khắc địa xung với trụ giờ Mậu Ngọ có 0,75đh + 0,05đh (vì Giáp chỉ vượng ở đại vận.
    Ta thấy 2 Mậu trong Tứ Trụ hợp với Quý Nhật can và cùng với Quý tiểu vận hợp với Quý lưu niên.
    Tý đại vận hợp với Thìn trụ tháng hóa Thủy thành công nhưng bị Ngọ trụ giờ xung phá tan cả cục lẫn hợp.
    Tý xung Ngọ xó 0,3đh.
    Mỗi Mậu trong Tứ Trụ hợp với 2 Quý nên mỗi lực khắc Quý có 0,7/2 = 0,35đh (vì khắc trái dấu). Mậu tiểu vận khắc Quý lưu niên có 0,5đh (vì chỉ khắc 1 can trái dấu).
    Quý lưu niên chỉ vượng ở đại vận nên có -0,25đh nhưng bị khắc bởi 3 Mậu nên chỉ còn -0,25.0,5.0,65.0,65 = -0,03đh. Quý Nhật can thất lệnh chỉ vượng ở đại vận nên có -0,25đh bị khắc bởi 2 Mậu trong Tứ Trụ còn -0,25.0,65.0,65 = -0,11đh.
    Giáp đại vận có 1 cát thần có -0,25đh. Tý đại vận có 1 hung thần có 0,25đh. Tị lưu niên có 2 cát thần và 2 hung thần.
    Dần trụ năm hình và hại Tị thái tuế mỗi lực có 1đh. Dần trụ năm hình và hại Tị trụ ngày mỗi lực có 0,5đh (vì cách 1 ngôi). Dần tiểu vận hình và hại Tị thái tuế mỗi lực có 0,5đh.
    Đất trên Thành ở tiểu vận có Mậu vượng ở tiểu vận khắc nước sông lưu niên có 1đh.
    Nước Suối trụ năn có Giáp thất lệnh chỉ vượng ở đại vận khắc nước Sông ở trụ ngày và lưu niên có tổng cộng 0,25đh.

    Tổng số có 6,81đh. Số điểm này quá cao là chấp nhận được vì nó thừa sức gây ra tử vong.
    Ở tiểu vận Kỷ Mão tổng điểm hạn cũng rất cao tới 5,63đh mà tại sao tai họa không xẩy ra?
    Cũng như tại sao tiểu vận Mậu Dần bắt đầu từ tháng Thìn mà sau 6 tháng tới tháng Tuất tai họa mới xẩy ra?
    Điều này chỉ có thể giải thích là chắc chắn phải có một yếu tố nào đó đã tác động vào Tứ Trụ hay tuế vận để cho tai họa xẩy ra. Nhìn lại ta thấy tai họa này đã xẩy ra vào tháng Nhâm Tuất đó là tháng thiên khắc địa xung với trụ tháng Mậu Thìn. Đây có phải là nguyên nhân tác động này không?
    Nếu đúng như vậy thì tháng Canh Thân nó cũng thiên khắc địa xung với trụ năm Giáp Dần thì sao? Phải chăng Thân đã khắc chế được Dần nên Dần không thể hình và hại được Tị trụ ngày và Tị lưu niên?..... Mọi thắc mắc đang chờ mọi người tìm ra lời giải đáp.

    Ta thấy trong tai họa này điểm hình và hại của 2 Dần với 2 Tị là quá nhiều, nó chiếm tới 4đh. Vì vậy muốn giải cứu tai họa này rất dễ nếu như đã được dự đoán trước, bằng cách là ở ẩn dật ở một nơi thật an toàn như trong chùa hay trên núi cao…. trách mọi tiếp súc với con người, xe cộ, thú dữ,… (theo tôi sống trong hầm ngầm chống bom nguyên tử là chắc ăn nhất).
     
    Last edited by a moderator: 22 Tháng mười một 2013
  2. VULONG

    VULONG Member

    Tham gia ngày:
    19 Tháng ba 2011
    Bài viết:
    95
    Điểm thành tích:
    6
    Nếu nạn nhân Huyền sinh giờ Mùi (trước tôi đã tính nhưng vì cẩu thả nên sai, nay xin tính lại cẩn thận):

    Sơ đồ tính điểm hạn và điểm vượng của ngũ hành trong vùng tâm:

    [​IMG]

    Sơ đồ tính điểm hạn vào giờ Mùi như sau:
    [​IMG]
    Theo sơ đồ trên ta thấy Tứ Trụ này Thân nhược mà Quan Sát là kỵ vượng nên dụng thần đầu tiên phải là Kiêu Ấn / Canh tàng trong Tị trụ ngày. Tai họa xẩy ra vào tháng 10 (Tuất) năm 2013 (Quý Tị) thuộc đại vận Giáp Tý và tiểu vận Kỷ Mão.
    Canh dụng thần vượng ở lưu niên có -1đh.
    Nhật can Quý nhược ở lưu niên có 0đh.

    Có Mậu trụ tháng hợp với Quý Nhật can và Quý lưu niên.
    Giáp đại vận hợp với Kỷ trụ giờ và Kỷ lưu niên.

    Theo giả thiết 178/(37;42) thì Tý đại vận hợp với Thìn trụ tháng hóa Thủy thành công nhưng nó bị đại vận Giáp Tý TKĐX* với trụ tháng Mậu Thìn phá mất Thủy cục chỉ còn lại tổ hợp. Và theo giả thiết 158/(68;161) thì TKĐX* này chỉ có 0,38.2/3đh + 0,05đh (vì Giáp chỉ vượng ở đại vận).

    Giáp đại vận chỉ vượng ở đại vận có 0,25đh và khắc 2 Kỷ nên mỗi lực khắc có 0,75.1/2.1/2 = 0,19 đh (vì khắc trái dấu). Riêng lực khắc Kỷ tiểu vận bị giảm thêm ½ còn 0,1đh. Kỷ trụ giờ là kỵ vượng bị đại vận khắc nên có 0,5đh kỵ vượng nhưng bị khắc mất 19% còn 0,41đh, do vậy Kỷ tiểu vận cũng có 0,25đh kỵ vượng nhưng bị khắc mất 10% còn 0,20đh.

    Mậu trong Tứ Trụ vượng ở lưu niên hợp với 2 Quý nên mỗi lực khắc Quý có 0,7/2 = 0,35đh (vì khắc trái dấu). Quý lưu niên chỉ vượng ở đại vận nên có -0,25đh nhưng bị khắc bởi Mậu trụ tháng nên chỉ còn -0,25.0,65 = -0,16đh. Quý Nhật can thất lệnh chỉ vượng ở đại vận nên có -0,25đh cũng bị khắc bởi Mậu còn -0,25.0,65= -0,16đh.
    Mậu trụ tháng là kỵ vượng động nên có 0,5đh kỵ vượng.

    Mão tiểu vận có 1 cát thần có -0,13đh. Tị lưu niên có 2 cát thần và 2 hung thần.

    Dần trụ năm hình và hại Tị thái tuế mỗi lực có 1đh. Dần trụ năm hình và hại Tị trụ ngày mỗi lực có 0,5đh (vì cách 1 ngôi).

    Theo giả thiết 211/7 thì nước Suối trụ năm có Giáp thất lệnh chỉ vượng ở đại vận khắc nước Sông ở trụ ngày và ở lưu niên, mỗi lực có 0,25đh.

    Tổng số có 5,11 đh. Số điểm này có thể chấp nhận được.
    Cũng như giờ Ngọ, tai họa ở giờ Mùi cũng chủ yếu do điểm hình hại gây ra nhưng giờ Mùi có thêm điểm kỵ vượng. Ở đây chỉ cần giải cứu các điểm Hình và Hại là được (còn điểm kỵ vượng thì tôi vẫn chịu, chắc là sống ẩn dật nhưng ở trong rừng thì phải, vì trong rừng Mộc vượng có thể làm cho kỵ thần Thổ giảm đi chăng?).

    Tai họa này đều phù hợp với giờ Ngọ và Mùi nhưng nạn nhân đã nói rõ là sinh vào lúc 13 giờ 10 phút nên lấy giờ Mùi là chính xác.

    Kết hợp với Tứ Trụ của ông Tường thì tôi có thể giải thích là nạn nhân Huyền có thể không phải do người nào ám hại cả mà thủ phạm chính là thuốc mê đã gây ra cái chết của cô ta và bác sĩ Tường đã phải gánh chịu tai họa này do phòng giải phẫu của ông ta là lậu (vì trước tất cả các ca phẫu thuật phải gây mê thì bệnh nhân phải ký vào giấy là đồng ý gây mê và không được quyền kiện cáo nếu thuốc mê gây ra bất kỳ điều xấu nào, kể cả cái chết, còn nếu không ký thì chỉ có thể mổ không gây mê nếu đồng ý).

    Các giả thiết 178/(37;42) ; 158/(68;161) và 211/7 được tìm trong các bài:

    Bài 21: Điểm hạn và khả năng của Thiên Khắc Địa Xung (TKĐX)

    D - Khả năng phá hợp của TKĐX

    177a/ - Nếu các tổ hợp và các thiên khắc địa xung cùng xuất hiện thì các tổ hợp luôn luôn được tạo thành trước, sau đó chúng mới bị thiên khắc địa xung bởi các trụ.
    178/(37;42) – 1 trụ TKĐX với bán hợp cục hay lục hợp cục có thể phá được cục nhưng vẫn còn tổ hợp của nó và phá được tổ hợp nếu nó không hóa cục nhưng nó không thể phá được các hóa cục trong tứ trụ từ khi mới sinh nếu 2 chi của TKĐX này là Thổ.
    ……………………………..
    158/(68;161) – TKĐX* (có chi là Thìn và Tý) chỉ có khi các chi của nó ở gần nhau và các chi này không cùng ở trong tam hợp, khi đó điểm hạn của TKĐX* chỉ bằng 2/3 điểm hạn của TKĐX (dĩ nhiên điểm hạn của TKĐK* cũng chỉ bằng 2/3 điểm hạn của TKĐK).
    ……………………….
    Bài 23 - Điểm hạn và các tính chất của nạp âm
    ………………………………………
    211/7
    – Các loại nạp âm có hành là Thủy không khắc được lửa dưới núi. Lửa dưới núi không khắc được kim trang sức. Nước khe và nước suối khắc nước sông, mỗi lực có 0,25đh, còn nước mưa và nước sông khắc nước sông, mỗi lực có ... ?
    ……………………………………..
     

Chia sẻ trang này