'Thiền định' với sức khỏe

Thảo luận trong 'Cải mệnh = Hatha Yoga và Dưỡng Sinh Thuận Theo Tự Nhiên' bắt đầu bởi ThanhThanh, 29 Tháng bảy 2006.

  1. ThanhThanh

    ThanhThanh New Member

    Tham gia ngày:
    27 Tháng bảy 2006
    Bài viết:
    260
    Điểm thành tích:
    0
    Thiền định có tác dụng điều chỉnh mọi hoạt động của cơ thể, tạo lập sự cân bằng nội tại. Ngoài tác dụng thư giãn, nó còn giúp phòng và chữa các bệnh do mất cân bằng chức năng cơ thể.

    Theo định nghĩa thông thường, thiền định là một kiểu thư giãn chủ động tích cực với hiệu quả cao nếu luyện tập đúng cách. Theo định nghĩa khoa học, thiền định là quá trình đạt tới sự tỉnh thức tuyệt đối trong trạng thái tĩnh, có được do luyện tập. Đó là trạng thái tập trung ức chế đồng đều cả nơron thần kinh cảm giác lẫn nơron thần kinh vận động, tập trung bắt đầu từ vỏ não và hệ thần kinh vận động.

    Khác với thư giãn thông thường, thiền định có tác dụng điều chỉnh lớn đến mọi hoạt động của cơ thể, tạo lập sự cân bằng nội tại, cân bằng cơ thể với môi trường sống; kiểm soát quá trình quan hệ giữa nội giới và ngoại giới. Vì thế, ngoài tác dụng thư giãn, thiền định còn có tác dụng phòng và chữa các bệnh do mất cân bằng các chức năng cơ thể mà chủ yếu là mất cân bằng giữa tuần hoàn máu và tuần hoàn điện thần kinh.

    Tác dụng thư giãn của thiền định có được đem lại là do người tập điều khiển vỏ não, chủ động ức chế hệ thần kinh động vật, từ đó dẫn đến ức chế hệ thần kinh thực vật mà trước tiên là các trung khu hô hấp, làm giảm nhịp thở kèm theo buông lỏng cơ. Khi đã ức chế sâu, thư giãn cơ sâu thì nhịp thở rất thấp, năng lượng tiêu hao xuống tối thiểu, cơ thể rơi vào tình trạng đông miên, hô hấp trên từng tế bào cơ thể đều giảm đến mức tối thiểu.

    Ở những người có tập thiền (không kể các nhà tu hành chân chính), nhu cầu vật chất không lớn, một mặt vì sau khi tập, chuyển hóa cơ thể xuống thấp, tiêu hao năng lượng ít và hợp lý. Do đó, người tập thiền không có nhu cầu lớn cho các sinh hoạt. Người tập thiền tốt không cần ăn nhiều mặc dù khẩu vị của họ rất tốt, ăn rất ngon miệng. Không lấy gì làm lạ, các nhà tu hành chân chính tập thiền đạt đến mức tiêu hao năng lượng cơ thể xuống mức tối thiểu. Hằng ngày họ thường chỉ ăn một bữa vào chính ngọ mà vẫn lao động sinh hoạt bình thường.

    Người tập thiền tốt đương nhiên sẽ tạo lập được trạng thái cân bằng của hệ thần kinh, điều hòa được các nhu cầu sinh hoạt tinh thần, chủ động điều tiết được hệ thần kinh sinh dục, luôn luôn cân bằng giữa ý thức và tâm thức. Có lẽ vì thế mà chúng ta không thấy họ mắc các bệnh tâm sinh lý đặc biệt.

    Khi ngồi thiền, các cơ quan trong cơ thể tương tác cân bằng nhau ở mức chuyển hóa rất thấp. Theo định luật phản hồi, nó tác động đến hệ thần kinh, đưa ra trạng thái tâm sinh lý của người thiền. Đỉnh cao của trạng thái sinh lý này là thời gian ngồi “nhập thiền”, tác dụng của nó không chỉ có trong lúc ngồi thiền mà còn kéo dài trong suốt cả ngày. Ngoài thời gian ngồi thiền, người tập vẫn duy trì trạng thái này bằng cách giữ sự cân bằng tương tác các cơ quan của cơ thể, được thực hiện bằng những hoạt động nhẹ nhàng tập trung không phân tâm trong suốt cả ngày.

    Theo giáo sư Soto Yukimasa (Đại học Kyoto, Nhật Bản), thiền giúp tăng cường tính nhẫn nại, làm cho ý chí bền vững, tăng cường khả năng suy nghĩ, ổn định về tình cảm và mau chóng khiến đầu óc tỉnh táo, bình tĩnh. Nó cũng giúp nâng cao hứng thú và hiệu suất của hành động, hình thành nhân cách hoàn thiện hơn và đạt tới cảnh giới giác ngộ. Bác sĩ Hasegawa (Đại học Osaka) cho rằng việc tọa thiền sẽ phát triển sự tập trung của phần não bên trong, tức là phần dưới vỏ não, và tập trung sự hoạt động của vỏ não.

    Theo Viện đại học Cologne (Đức), thiện định giúp người ta bớt nóng nảy, hung hăng, giảm bệnh về tinh thần và ham muốn khống chế, cấm đoán, ngăn cản người khác, giảm tính bất định. Nó làm tăng sức hòa hợp, thân thiện với người khác, biết kính nể người và tự chê mình, tăng sự tự tin, thỏa mãn, khả năng chịu đựng trong tình huống xấu, tăng tính quả quyết, tự tin...

    Tóm lại, nghiên cứu của các tác giả gần giống nhau về trạng thái hoạt động của hệ thần kinh người tập thiền. Đó là trạng thái yên tĩnh, ổn định không xung đột của hệ thần kinh với biểu hiện: nhẫn nại, bền bỉ, tự tin, bình tĩnh, ổn định nhân cách, hoàn thiện tình cảm, đầu óc sảng khoái, thân thiện, hòa hợp với mọi người. Trạng thái yên tĩnh ổn định, sự ứng xử hợp tình hợp lý với sự việc và con người xung quanh chứng tỏ người tập thiền luôn vui vẻ về tâm hồn và khỏe mạnh về thể chất.

    Khi chủ động giảm được tiêu thụ năng lượng, gốc tự do trong cơ thể cũng giảm theo; cơ thể cân bằng hoạt động tương tác các cơ quan. Sự cân bằng ổn định của cơ thể sẽ tác động trở lại não bộ theo định luật phản hồi, tạo trạng thái cân bằng ổn định cho hoạt động của vỏ não, tăng sức bền, sức chịu đựng và khả năng điều hòa, điều khiển cơ thể. Trạng thái thần kinh này giúp con người chống stress rất tốt.

    Sức khỏe thể lực tốt cùng với trạng thái thần kinh ổn định sẽ làm cơ thể thích ứng tốt với môi trường sống và môi trường nhân văn. Đó là nền tảng của cơ sở phòng bệnh. Nếu sự cân bằng các cơ quan tương tác được duy trì, cơ thể sẽ không xảy ra những tai biến bất thường. Ví dụ: Nếu tương tác giữa cơ quan tuần hoàn máu và tuần hoàn điện thần kinh được ổn định thì thường không xảy ra các tai biến về não.

    (Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
     
  2. ThanhThanh

    ThanhThanh New Member

    Tham gia ngày:
    27 Tháng bảy 2006
    Bài viết:
    260
    Điểm thành tích:
    0
    Bài tập tự chữa bách bệnh - 'Thập nhị đoạn cẩm'

    Giới thiệu

    Bài tập 12 động tác này là một trong những bí quyết giữ sức khỏe của giáo sư Nguyễn Lân, một biểu tượng về chữ thọ trong làng trí thức Việt Nam (cụ thọ 99 tuổi). Ngoài việc giữ sức khỏe và giúp trường thọ, nó còn có tác dụng chữa nhiều bệnh tật.

    Nhà báo Nguyễn Trương Đàn, một người quen của giáo sư Lân kể: Khoảng đầu những năm 90 của thế kỷ trước, trong một hội nghị, các phóng viên hỏi giáo sư Nguyễn Lân về bí quyết để có được sức khỏe và sự minh mẫn ở tuổi bát tuần. Cụ Lân cười, lấy ra một tờ báo: “Tôi đã trả lời phỏng vấn về điều đó trên tờ báo này. Xin được biếu chị làm kỷ niệm và thay cho câu trả lời của tôi”. Lúc đó, ông Trần Nguyên Vấn ở Ban biên tập văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam nói chen vào: “Dạ, em cũng đã đọc bài báo của thày rồi ạ. Em cũng đang thực hiện những điều thày phổ biến. Em còn nhớ, thày dặn là khi xoa bóp toàn thân, phải nhớ xoa cho cả cái ấy nữa".

    Khi mọi người đã tản đi, ông Đàn đến bên cụ Lân. Cụ bảo: "Tôi trông sắc da anh, hình như anh có bệnh gì về nội tiết đấy! Tôi muốn biếu anh một bài thuốc, nếu anh chịu làm theo thì có thể tăng cường sức khỏe, làm báo được lâu dài”.

    Trong khoảng mười phút, ông đã học được 12 động tác trong bài thuốc mà giáo sư Lân truyền thụ. Sau này, ông mới biết mình bị bệnh tiểu đường. Khi phát hiện ra bệnh, ông Đàn vẫn vừa uống thuốc Tây, vừa tập luyện đều đặn bài tập đó. Dần dần, đường máu của ông luôn được giữ ở mức ổn định dù không còn dùng thuốc Tây thường xuyên.

    Sau này đọc các sách thuốc, ông Đàn mới phát hiện ra, đó chính là bài tập để tự chữa bách bệnh của người Trung Quốc có tên là “Thập nhị đoạn cẩm”, nghĩa là 12 tấm gấm. Việc luyện tập 12 động tác này lâu ngày sẽ làm cho huyết mạch lưu thông, trừ khử bệnh tật, kéo dài tuổi thọ.

    Phương pháp tập

    1. Cắn răng: Hai hàm răng nhẹ nhẹ cắn vào nhau 36 lần.

    2. Nuốt nước bọt: Lòng dạ thanh thản, lấy đầu lưỡi ngoáy trong mồm để nước bọt ra đầy mồm, rồi súc miệng 36 lần, nuốt nước bọt làm 3 lần và dùng ý niệm đưa nước bọt về phía đan điền (vùng dưới rốn).

    3. Rửa mặt: Hai tay xoa vào nhau cho nóng lên, rồi xoa lên mặt, từ hai khóe miệng lên cánh mũi ra hai bên má, lên hai bên thái dương, lại kéo xuống cằm, làm đi làm lại nhiều lần, xoa đến khi nóng là được.

    4. Gõ trống trời: Hai tay bịt tai, ngón tay trỏ đặt lên trên ngón tay giữa rồi bật mạnh xuống đầu, làm 24 lần.

    5. Động huyệt cao manh: Hai vai quay đi quay lại 36 lần.

    6. Đỡ trời: Nắm hai tay, sau khi hít đầy khí, nín thở, đồng thời một tay xòe ra hướng lên trời, sau đó từ từ bỏ xuống, mỗi tay làm 3 lần.

    7. Bắn cung phải trái: Nín hơi, tay trái đưa thẳng ra phía trước, tay phải làm động tác kéo dây cung. Tay phải tay trái đổi động tác cho nhau, làm 3 lần.

    8. Xoa đan điền: Tay trái để vào chỗ thận, tay phải xoa vào đan điền, hai tay thay đổi nhau 36 lần.

    9. Xoa huyệt nội thận: Nín hơi, hai tay xoa cho nóng, xoa huyệt mệnh môn (chính giữa thắt lưng, dưới đốt sống thứ 2 tính từ dưới lên) 36 lần.

    10. Xoa huyệt dũng tuyền: Tay trái cầm bàn chân trái lên, tay phải xoa vào bàn chân trái 36 lần, lại đổi sang chân phải.

    11. Xoa huyệt hiệp tích: Xoa khe xương ngực số 3 và số 4; 36 lần.

    12. Vẩy chân: Chân trái đứng yên, chân phải nhấc lên vẩy 7 lần, lại đổi sang chân trái, vẩy 7 lần.

    Đây là bài tập tối thiểu cho một người bình thường; nghĩa là một người khỏe mạnh khi có điều kiện cần luyện tập những môn thể dục mạnh khác, thập nhị đoạn cẩm chỉ là bài tập bổ sung.

    Những người cao tuổi hoặc có bệnh, tùy theo hoàn cảnh, nên tập đều đặn bài này, phải kiên trì tập hằng ngày, ít nhất là một lần một ngày.

    Có những người thời gian rất eo hẹp do phải đi công tác, phải thường xuyên tiếp khách khứa... Có thể chia thành nhiều phần tập vào những khoảng thời gian thích hợp trong ngày. Thí dụ: Khi đi vệ sinh, ở trong phòng toilette vẫn có thể tập các động tác từ số 1 đến số 7, chí ít là đến động tác số 5. Còn các động tác khác như xoa bóp có thể thực hiện ngay khi tắm. Lúc đó, vừa kết hợp kỳ cọ, vừa xoa bóp toàn thân, trước hết ưu tiên xoa các huyệt mà bài tập đã nêu từ động tác 8 đến động tác 10. Khi tắm, nên ngồi xuống xoa huyệt dũng tuyền ở hai lòng bàn chân, kết hợp với xoa xà phòng, kỳ cọ cả bàn chân, sẽ có cảm giác thật thú vị, hết sức dễ chịu.

    Các động tác 1, 2 nếu thực hiện đều đặn sẽ rất có hiệu quả cho hệ tiêu hóa. Trước đây, ông Đàn thường bị đau đại tràng, đau dạ dày ở vùng thượng vị, táo bón... Từ khi tập đều đặn thập nhị đoạn cẩm, nhất là các động tác 1, 2 thì các chứng trên biến mất, khiến ông ăn uống rất chủ động, không phải kiêng quá mức, dùng bia rượu vẫn không hề hấn gì.

    Động tác thứ 3 (rửa mặt) có thể vận dụng sáng tạo thêm, miễn là có thời gian và sức khỏe để thực hiện. Thí dụ: Có thể dùng hai ngón tay trỏ day các huyệt ở chân mũi, thời gian tùy ý, hoặc day mắt, xoa quanh miệng nhiều vòng.

    Động tác 4 (gõ trống trời) cũng có thể cải tiến thêm như: kẹp hai vành tai bằng ngón trỏ và ngón giữa, xoa day nhiều lần cho nóng lên, rồi mới thực hiện tiếp các điều chỉ dẫn.

    (Sức Khỏe & Đời Sống)
     
  3. ThanhThanh

    ThanhThanh New Member

    Tham gia ngày:
    27 Tháng bảy 2006
    Bài viết:
    260
    Điểm thành tích:
    0
    Thiền định dưới ánh sáng khoa học

    Quán Như Phạm Văn Minh

    Matthieu Ricard, một nhà sư Tây Tạng thuộc tu viện Shechen ở Nepal, đă đồng ư tham dự một cuộc thử nghiệm để các nhà khoa học theo dơi những thay đổi của tế bào năo bộ khi ông nhập định, theo một chương tŕnh nghiên cứu của đại học Winconsin. Ricard, pháp danh là Oser, đă chịu vào nằm trong ống của máy chụp h́nh ba chiều fMRI, nhờ đó các nhà tâm lư có thể theo dơi các biến đổi của năo bộ bằng âm hưởng của từ trường, thường dùng trong các pḥng thí nghiệm. Ba mươi sáu năm trước đây, trước khi thọ giới, Matthieu Ricard cũng là một nhà khoa học có nhiều triển vọng, đă đậu tiến sĩ về sinh học di truyền tại viện Pasteur ở Paris.

    Trong cuộc thử nghiệm này, Matthieu Ricard lại trở thành “đối tượng” nghiên cứu của một số các khoa học và kỹ thuật gia. Ricard phải quên cảnh ồn ào trong pḥng thí nghiệm để nhập vào thế giới thiền định bên trong. Trong ṿng 3 tiếng đồng hồ khi Ricard nhập định, các máy fMRI ghi nhận h́nh ảnh thay đổi của tế bào năo bộ. Đây là lần đầu tiên các khoa học gia chứng kiến sự biến đổi của các tế bào năo bộ của một nhà sư đang ở trong trạng thái thiền định.Những khám phá này có thể khiến cho các khoa học gia suy nghĩ lại về những biến đổi của năo bộ liên hệ đến khả năng giúp con người trở nên an lạc và hạnh phúc hơn. Cuộc thử nghiệm này do giáo sư Richard Davidson, giám đốc Pḥng Nghiên Cứu Thần Kinh thuộc đại học Wisconsin điều khiển.

    Trong khi vào trong trạng thái thiền mà Phật Tử thường gọi là quán từ bi, người ngồi thiền quán tưởng đến một cá nhân nào đó với ḷng thương cảm, các tế bào ở khu năo thùy phía trước bên trái (ngay bên trong trán) của Ricard có nhiều dấu hiệu hoạt động mạnh mẽ. Năo thùy phía trước bên trái là nơi khích động t́nh cảm. Trong những lần thử nghiệm trước, Davidson đă có kinh nghiệm những người nào có năo thuỳ bên trái phía trước hoạt động nhiều, là lúc người đó đang vui mừng, cảm thấy hạnh phúc và nhiệt thành- hoặc họ là những người có tâm tính vui vẻ và dễ dàng hồi phục sau khi gặp những biến cố t́nh cảm tiêu cực.

    Trong khi đó những người nào có tâm tính buồn bă, lo lắng, sợ hăi hay sầu muộn, các tế bào ở khu năo thùy bên phải phía trước hoạt động nhiều hơn. Phần lớn chúng ta đều ở mức trung b́nh. Trong biểu đồ h́nh cái chuông của Davidson, có 67% thuộc mẫu người hạnh phúc trung b́nh, 33% có những có năo thuỳ trái hay phải hoạt động thái quá, nghĩa là những mẫu người thật hạnh phúc hay quá đau khổ.

    Tuy nhiên hoạt động năo bộ của Ricard vượt cao hơn bất cứ một người nào mà Davidson đă thử nghiệm từ trước đến nay. Một đồng nghiệp của Davidson nhận xét biểu đồ của Ricard “ra khỏi biểu đồ đă có từ trước đến giờ” Ngay cả khi nhà sư này không nhập định, mức hoạt động của tế bào năo thùy bên trái phía trước vẫn hoạt động ở một mức cao.

    Gần đây một số nhà khoa học tuyên bố nhửng người tâm tính hạnh phúc hay đau khổ phần lớn do các yếu tố di truyền “tiền định.” Ngay cả khi một người trúng số độc đắc hay chứng kiến một tai nạn thảm khốc có thể kích thích các tế bào thần kinh ở năo thùy trước bên trái hay bên phải hoạt động mạnh hơn một chút, tuy nhiên mức hoạt động của năo thùy có khuynh hướng trở về t́nh trạng cũ.

    Một thử nghiệm quan trọng để hiểu trạng thái thiền định về phương diện khoa học đă được tiến hành vào 3 năm trước đây, trong cuộc gặp gỡ ly kỳ giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma và một nhóm khoa học gia và triết gia Tây Phương ở Dharamsala, Ấn Độ, trong số này có cả Richard Davidson và Owen Flanagan, giáo sư triết lư tại đại học Duke ở North Carolina.

    Vị lănh đạo tinh thần của Phật Giáo Tây Tạng đă thảo luận liên tiếp trong ṿng 5 ngày với các chuyên gia về tâm lư, triết lư và thần kinh học để xem khoa học có thể học được những ǵ về sự liên hệ giữa thân thể và tâm linh, nhất về phương diện t́nh cảm, từ Phật Giáo, một tôn giáo có truyền thống thực tập thiền định trong hơn 2,500 năm.

    Truyền thống Đông Phương đă biết sự liên hệ mật thiết giữa thân thể và tâm linh và Phật Tử đều biết tâm an lạc sẽ giúp thân thể mạnh khỏe. Theo y khoa Tây tạng, hai yếu tố giúp bịnh nhân mau lành là tâm cảnh của thầy thuốc và tâm cảnh của bịnh nhân.

    Tuy nhiên các nhà khoa học đời nào chịu chấp nhận những lời quả quyết nào không chứng minh bằng thực nghiệm. Nếu các nhà khoa học chứng minh thiền định có lợi ích về mặt chuyển hóa các t́nh cảm tiêu cực, thiền định có thể đem ra áp dụng cho tất cả mọi người, Phật Tử hay không Phật Tử. Mục đích của thử nghiệm này nhằm cung cấp một phương pháp thực dụng và thế tục để làm vơi đau khổ và đi t́m t́nh cảm hạnh phúc an vui. Tuy nhiên Đức Đạt Lai Lạt Ma đă nói một câu bất hủ là, nếu khoa học cho thấy thiền định không giúp ích ǵ cả, Ngài sẵn sàng suy nghĩ lại về truyền thống thực tập lâu đời này của Phật Giáo. Ngài c̣n nói, nếu khoa học t́m ra những kết quả đi ngược lại với ḷng tin của người Phật Tử, Phật Giáo phải thay đổi ḷng tin của ḿnh theo những khám phá mới này. Ḷng tin của Phật Tử phải phù hợp với sư thực.

    Kết quả của cuộc gặp gỡ này được đúc kết trong quyển sách Destructive Emotions: A Scientific Dialogue with the Dalai Lama do Daniel Coleman hiệu đính. Trong tháng tới, sẽ có một cuộc gặp gỡ giữa Ngài và sinh viên viện Kỹ Thuật Massachusettts.

    Kết quả của các thử nghiệm sơ khởi này nhằm loại trừ những t́nh cảm tiêu cực mà Phật Giáo hay nhắc đến như giận dữ, ghét bỏ, ghen tỵ và cho thấy là Thiền Định có những ảnh hưởng đáng ngạc nhiên vào sự uyển chuyển của năo bộ, khả năng uốn nắn và thay đổi kinh nghiệm.

    Điều thích thú là khi nhập vào quán từ bi, các tế bào thần kinh hoạt động mạnh mẽ và Ricard vẫn vui vẻ mặc dầu ông bị nhốt bó rọ trong ống của máy chụp fMRI trong nhiều tiếng đồng hồ. Coleman cho biết là khi Ricard ra khỏi các ống chật hẹp fMRI, ông vẫn sảng khoái và tươi tắn. Ai đă từng giúp đỡ bạn bè hay bất cứ người nào đang trong t́nh trạng nguy cấp v́ ḷng thương cảm đều có thể nhận thấy cảm giác vui sướng này. Phật Giáo nói là hành động thúc đẩy bởi từ bi trước tiên đem những lợi ích đến người thi ân. Những bức ảnh chụp những hoạt động tế bào thần kinh năo bộ của Ricard đă xác nhận điều này.Tuy nhiên có thể không có yếu tố nào đủ để giải thích trọn vẹn tại sao Ricard lúc nào cũng an lạc. Như Coleman đă nhận xét, có thể trăi qua nhiều năm thiền định nên Ricard mới đạt đến t́nh trạng an nhiên này. Hay là v́ những chủng tử di truyền đă khiến cho Ricard trở thành một người hạnh phúc? Hay Ricard là một trường hợp ngoại lệ khác thường?

    Cũng có thể năo thùy trái phía trước của Ricard đă quen hoạt động trong khi những người thường như chúng ta sống một cuộc đời quá bận rộn nên thường các tế bào ở năo thùy bên phải phía trước bị kích thích thường xuyên hơn! Hay chỉ có những nhà sư chọn lựa một đời sống nơi hang sơn cùng cốc và tu tập thiền định mới đạt được trạng thái an lạc này? Như đứa con trai của Owen Flanagan theo cha đến Dharamsala nói: “Nếu con không cưới vợ như mấy nhà sư hay không có con đang vào tuổi vị thành niên, con cũng sung sướng như họ vậy!”

    Nhằm loại bỏ những yếu tố có thể giúp Ricard hạnh phúc như việc ông chọn đời sống không ràng buộc của một nhà sư và kinh nghiệm ngồi thiền, Richard Davidson tổ chức một cuộc tu thiền kéo dài 8 tuần lễ với 25 nhân viên của công ty Promega, một công ty sinh học kỹ thuật cao cấp, tuổi từ 23 đến 56, có dấu hiệu năo thùy bên phải phía trước hoạt động nhiều (những người bị căng thẳng hay đau khổ). Những người này cho ban quản trị biết là tinh thần họ bị căng thẳng và không thích công việc đang làm. Sau khóa thực hành thiền định 8 tuần, năo thùy bên trái phía trước của họ tăng gia hoạt động. Các nhân viên này nói họ cảm thấy hạnh phục hơn và nhiệt thành hơn với công việc và đời sống. Sau đó họ thực tập thêm 4 tuần lễ nữa, các bán cầu năo bên trái phía trước của những người tham dự khóa thực tập thiền có nhiều dấu hiệu tăng gia hoạt động, trong khi các nhóm không ngồi thiền không thấy có dấu hiệu thay đổi nào.

    Trong khi những cuộc thí nghiệm dài hạn cần phải được tiếp tục thực hiện để loại bỏ những yếu tố khác có thể làm cho các nhân viên này cảm thấy hạnh phúc hơn, các nhà khoa học nghĩ rằng việc ngồi thiền dài hạn có thể làm thay đổi t́nh cảm và t́nh cảm tích cực như hạnh phúc có thể trở thành mẫu mực của t́nh cảm nơi những người mà chúng ta thường hay nói là mẫu người luôn vui vẻ và hạnh phúc.

    Đây là những giả định của lư thuyết này. Khi chúng ta kinh nghiệm về một t́nh cảm, chúng ta vận động năo bộ theo một cách để đáp ứng với t́nh cảm đó và tạo ra những mạch điện nối kết trung tính. Khi t́nh cảm giống như thế trở lại, hệ thống hoạt động của tế bào thần kinh liên hệ với t́nh cảm này càng ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn. Cũng giống như một ḍng sông chảy qua một khe núi trong một thời gian dài, mạch điện tạo ra những ḍng điện và sau một thời gian, mạch điện này trở thành khuôn mẫu cho t́nh cảm và tính t́nh của một người. Nếu chúng ta luôn kinh nghiệm t́nh cảm tiêu cực nhiều hơn là t́nh cảm tích cực, t́nh cảm tiêu cực sẽ trở nên khống chế và khiến cho các tế bào thần kinh ở năo thùy bên phải phía trước tăng gia mức hoạt động.

    Những cuộc nghiên cứu trước đây của Davidson cho thấy, cũng giống như việc vận động cơ thể làm bắp thịt mạnh hơn, thực tập thiền định cũng làm phần của năo bộ kích thích sự giận dữ và sợ hăi bị kềm chế và do đó khiến cho chúng ta có cảm giác an lạc. Và không giống như những vận động như khiêu vũ chỉ làm cho chúng ta vui thú trong giây lát, ngồi thiền tích tụ kết quả tốt và qua một thời gian dài, các t́nh cảm tiêu cực càng lúc càng trở nên yếu ớt và bớt khống chế tâm cảnh chúng ta hơn.

    Nếu giả thuyết này đúng, thiền định có thể giúp những người bị chứng trầm cảm (Depression) vượt qua những cơn khủng hoảng. Trên thực tế những cuộc thử nghiệm cho thấy đối với những người bị trầm cảm, thiền định giúp họ giảm nguy cơ bị khủng hoảng từ 66 tới 37 phần trăm.

    T́nh cảm tiêu cực không những ảnh hưởng đến an lạc hay tâm cảnh, chúng c̣n ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng ta nữa. Các năo thùy phía trước, cùng với những phần khác của năo bộ, đóng một vai tṛ quan trọng trong việc phát khởi t́nh cảm, mà c̣n liên hệ mật thiết đến áp huyết, kích thích tố và hệ thống miễn nhiễm của chúng ta.

    V́ thế Davidson muốn làm một thử nghiệm khác với các nhân viên Promega bằng cách cho họ chích thuốc chủng ngừa cảm cúm sau khi họ tham dự khóa thiền quán 8 tuần. Sau đó ông cho họ thử máu để đếm số kháng thể của bịnh cúm. Những người nào có các tế bào thần kinh ở năo thùy phía trước bên trái hoạt động mạnh hơn sau khóa thiền định cũng có nhiều kháng thể trong máu hơn.

    Cuộc thử nghiệm của Ricard không phải là cuộc thử nghiệm đầu tiên trên năo bộ của một nhà sư đang thiền quán để t́m xem thiền định có lợi ích ǵ về mặt y khoa hay không. Vào năm 1980 trường Y Khoa tại đại học Harvard, với sự giúp đỡ của Đức Đạt Lai Lạt Ma, một bác sĩ chuyên khoa về tim, Bác Sĩ Herbert Benson, đă làm những thử nghiệm với các nhà sư ở Ấn Độ.

    Trong khi ngồi thiền quán, có tên là g-tummo, trong một căn pḥng có nhiệt độ 4 độ C, các nhà sư dùng các khăn nhúng vào nước lạnh đến 9 độ C choàng lên vai. Thay v́ họ sẽ run cầm cập như chúng ta nghĩ, các nhà sư này tạo ra thân nhiệt làm khô các khăn choàng. Những nhà sư có thể làm chậm mức độ hoạt động của thân thể xuống 64%, một sự thay đổi đáng chú ư v́ mức độ hoạt động của thân thể của người thường chỉ giảm xuống từ 10 đến 15% trong khi ngủ.

    Vào đầu năm 1975, Benson đă viết một quyển sách ăn khách The Relaxation Response dựa trên các cuộc nghiên cứu loại thiền transcendental meditation (TM) và những kỹ thuật thiền quán khác, cho thấy thiền quán có làm giảm mức căng thẳng tinh thần và làm hạ áp xuất máu.

    Benson đồng thời cũng khám phá ảnh hưởng của thiến TM sau khi làm một thử nghiệm với một nhóm người thực tập loại thiền này vào năm 1970. Ngoài những tác dụng hữu hiệu của thiền TM lên thân thể, ông thấy rằng những người tu tập thiền đều có ảnh hưởng tốt dù họ thuộc về các nền văn hoá khác nhau. Những ảnh hưởng tốt này như mức độ chuyển hoá cơ thể (metabolism) giảm, nhịp tim đập và nhịp thở giảm, áp suất máu hạ, có thêm những sóng-alpha (làm giảm nhịp chuyển sóng của giữa các tế bào năo) làm con người cảm giác khỏe khoắn và tươi mát.

    Tất cả những biến đổi về mặt sinh lư này đều trái ngược với các thay đổi cơ thể khi một người bị căng thẳng thần kinh. Khi ở trong t́nh trạng căng thẳng, nét mặt thường hiện ra những nét giận dữ, nhịp tim và nhịp thở lên cao, và các hoá chất làm tinh thần căng thẳng như cortisol và norepinephrine được tiết ra để giúp cơ thể đối kháng với những đe dọa.

    Sự nguy hiểm của việc tiết ra các kích thích tố này là chúng gây ảnh hưởng xấu đến hệ thống thần kinh và miển nhiễm của chúng ta và gây ra những vấn đề khó khăn cho sức khỏe như huyết áp cao, các chứng liên hệ về tim, hậu môn bị kích thích, trĩ, viêm khớp xương, ban đỏ và các chứng về da.

    Benson khám phá ra là tất cả những h́nh thức cầu nguyện và động tác lập đi lập lại, như việc lần chuỗi hột của các tín đồ Thiên Chúa, lối cầu nguyện của các tín đồ Tin Lành hay lối cầu nguyện gật gù của tín đồ Do Thái Giáo, tạo ra những ảnh hưởng tương tự như khi thực tập thiền quán, cũng như các lối tập Yoga, Tai Chi, Khí Công, hát kinh, giai đọan thôi miên sơ khởi và ngay cả đánh trống.

    Benson t́m ra được hai điều căn bản giống nhau trong các lối thực tập này và nghĩ ra kỹ thuật làm thân thể thư dăn. Kỹ thuật này gồm việc lập đi lập lại một chữ, một câu, một lời cầu nguyện, một tiếng động hay một động tác (đây là một cách thực tập tốt cho các trẻ em bị chứng ADD) và không chú ư và bị chi phối đến những ư tưởng hiện ra trong tâm, mà chỉ chú ư đến những lời nói hay tiếng động.

    Kỹ thuật này tương tự với phương pháp thiền quán tùy tức và sổ tức của Phật Giáo, kỹ thuật thư dăn này chỉ nhằm đem đến những lợi ích cho cơ thể hơn là mục đích tâm linh.

    Theo những người tin tưởng kỹ thuật thư dăn này cho rằng nếu mỗi ngày thực tập chừng 15 đến 20 phút, có thể làm giảm bớt mức căng thẳng thần kinh, giảm áp huyết và c̣n có thể chữa trị nhiều chứng rối loạn khác trong cơ thể nữa, từ bịnh tim đến bịnh bất lực về sinh lư, chứng căng thẳng sau khi có kinh nguyệt (PMT) và chứng thiếu được săn sóc nơi trẻ em ADD. Kỹ thuật này cũng được dùng để đối phó với những phản ứng phụ của phương pháp trị bịnh chemotherapy. Các công nhân thu dọn tại ground zero ở hai toà nhà WTC đă được dạy phương pháp này để họ có thể đối phó với những cảnh ghê rợn gặp phả trong khi làm việc.

    Gần đây Benson t́m ra nguyên nhân làm giảm mức căng thẳng tâm thần và huyết áp của kỹ thuật thư dăn này. Trong khi thực hành, chất nitric oxide được tiết ra trong cơ thể để chống lại chất kích thích tố norepinephrine. Chất norepinephrine làm mạch máu co rút lại khi chúng ta bị căng thẳng tinh thần. Chất nitric oxide làm mạch máu mở rộng ra và làm điều hoà lưu lượng máu. Không những thế, khi chúng ta bị căng thẳng, lượng Nitric oxide tiết ra trong cơ thể bị trở ngại.

    Chất Nitric oxide cũng liên hệ đến việc tạo ra chất endorphins và các hoá chất khác trong cơ thể để chống và giảm đau và đồng thời cho chúng ta có cảm giác khỏe mạnh. (đây cũng là một yếu tố chính để làm cứng dương vật. Không có chất này lưu luợng máu vào dương vật sẽ bị giới hạn.)

    Trong khi những thử nghiệm của Ricard nhằm khám phá những lợi ích lâu dài giữa thân thể và tâm thần của thiền định, lợi điểm của kỹ thuật thư dăn của Benson có thể giúp những người không ngồi thiền định đều đặn.

    Paul Ekman, một tâm lư gia tại Đại Học California ở San Francisco gọi Phật Giáo là “thể lực gia của tâm hồn”. Cũng như Benson, ông nghĩ là những phương pháp định tâm của Phật Giáo có thể giúp chúng ta rất nhiều.

    Ekman một chuyện viên nổi tiếng về khoa học của các t́nh cảm và truyền thông của những cử chỉ, cũng tham dự cuộc hội thoại ở Dharamsala. Trong nhiều thập niên qua ông đă bỏ công nghiên cứu về những nét mặt của của dân Tây Phương và dân các bộ lạc Phi Châu và lúc đó không ai tin là cuộc nghiên cứu này có thể đem lại một ích lợi nào. Nhưng cuối cùng ông đă được mời để huấn luyện cảnh sát và nhân viên FBI, giúp họ ḍ xét nét mặt của những người bị t́nh nghi. Ông đă gặp hàng ngàn khuôn mặt khác nhau trong suốt 50 năm làm việc trong nghề. Ông thú nhận là Đức Đạt Lai Lạt Ma đă làm thay đổi ư niệm của ông về khả năng biểu hiện trên nét mặt của con người.

    Ông phê b́nh: “Điều kỳ diệu là một số đông Phật Tử có một cuộc đời an lạc và nh́n thế giới với con mắt dí dỏm.” Những nét an lạc này làm nhiều người thuộc tôn giáo khác ghen tỵ và bực bội v́ thấy Phật Tử lúc nào cũng hưởng hạnh phúc.

    Ông thú nhận là trước cuộc hội thoại ở Ấn Độ ông chưa hề biết ǵ về Phật Giáo. Ekman c̣n nói là ông không muốn tham dự cuộc hội thoại một chút nào, tuy nhiên ông đồng ư tham dự v́ muốn chiều đứa con gái của ông, một người có liên hệ đến phong trào Tây Tạng Tự Trị và v́ ông muốn gặp đức Đạt Lai Lạt Ma.

    O^ng nói là sau khi đọc một vài cuốn sách của Ngài, ông ta nhận thấy có những điều trùng hợp với lư thuyết của chính ông. Điều náy khiến ông muốn tổ chức một loạt các thử nghiệm với Ricard- ông và Davidson gặp đức Đạt Lai Lạt Ma ở Dharamsala- với những kết quả thú vị.

    Phật tử thường cho thiền định là phương pháp tự kềm chế tâm viên ư mă và làm tâm an lạc, t́m thấy được “bản lai diện mục” của tâm, thường bị phủ lấp bỡi những lớp sóng phế hưng của t́nh cảm trên mặt. Nếu thực tập đều đặn, hành giả có thể vượt thắng những t́nh cảm độc hại và đạt đến tứ vô lượng tâm (từ bi hỷ xả).

    Ekman muốn thử nghiệm mức an lạc của các nhà sư, nên ông đă đề nghị thử Ricard về những phản xạ giật ḿnh.

    Khi một người nghe một tiếng động lớn họ sẽ có phản xạ bất ngờ dù người đó nghe tiếng động cả ngày. Phần lớn mọi người đều bị phản xạ giựt ḿnh và mức độ này thay đổi khác nhau tùy người, tương ứng với nhịp tim và áp suất máu. Ekman nói là phản xạ giật ḿnh là một phương tiện đo lường đáng tin cậy về sức mạnh của mỗi người khi gặp phải những t́nh cảm tiêu cực. Người nào có mức phản xạ mạnh và tim cần một thời gian lâu hơn mới trở lại mức b́nh thường là những người hay giận dữ hay buồn bă.

    Để đo mức phản xạ của Ricard, các người thử nghiệm nói với ông là họ sẽ đếm từ 10 xuống 0, rồi bắn một phát súng hay một quả pháo và bảo Ricard cố gắng đừng phản ứng ǵ cả.

    Trong những lần thử nghiệm trước đó với 5 ngàn đối tượng, không có người nào nén được phản ứng với tiếng động đó. Tuy nhiên Ricard không tỏ ra có một phản ứng nào trong lúc ông nhập định, nhịp tim và áp suất máu của ông chỉ tăng lên chút ít. Trong một lần thử nghiệm khác, Ricard chỉ đổi sắc mặt một ít trong khi nhịp tim và áp suất máu vẫn giữ yên. Ricard nói với Daniel Coleman nhờ thiền định khiến tâm ông trở nên trung tính như “một con chim vỗ cánh bay trên bầu trời”.

    Tác dụng tự kiểm soát và hỷ xả đă khiến cho nhà cầm quyền Ấn Độ quyết định dạy cho 9 ngàn tù nhân thực tập thiền quán. Vào năm 1994 tổng nha thanh tra cải huấn đă có sáng kiến mở khóa thiền quán Vipassana trong ṿng 10 ngày cho tù nhân với hy vọng làm giảm mức độ bạo động trong tù cũng như giảm tỷ lệ con số các tù nhân tái phạm tội bằng cách dạy các tù nhân cách đối trị với các t́nh cảm tiêu cực và ư muốn phạm tội một cách bột phát.

    Kỹ thuật thiền quán Vipassana của Phật Giáo cần phải được thực tập rất công phu. Thường thường hành giả phải thực tập quán sát trong im lặng trong ṿng 10 ngày và mỗi ngày họ có thể thực tập 12 tiếng đồng hồ. Các người thực tập phải ăn chay. Sau khóa thiền quán các người tham dự được khuyến khích thực tập một giờ vào buổi sáng và buổi tối. Paul Ekman thú nhận là có 2 chuyện khó làm nhất trong đời ông là thực tập Vipassana và bỏ hút thuốc lá.

    Một số lớn một ngàn tù nhân tham dự khóa thiền là những người phạm các tội bạo động như hiếp dâm, giết người, bán ma túy và các hành động khủng bố khác. Sau 10 ngày thực tập trong các lều đưọc dựng ra ở trong sân tù, kết quả khả quan hơn mọi người tưởng.

    Một tù nhân nhận được giấy trả tự do trước khi khóa thiền định chấm dứt từ chối không rời nhà tù cho đến khi măn khoá thực tập. Nhiều tù nhân đă bớt hung hăn và không c̣n nuôi ư định trả thù nữa. Tập tài liệu Thực Tập Vipassana Trong Tù, cho biết nhiều tù nhân bị xúc động sau khóa thiền quán, đă ôm và khóc trên vai các cai tù. Các vụ bạo động trong tù cũng giảm bới và mối liên hệ giữa tù nhân và cai tù đă được cải thiện một cách đáng kể.

    Sự thành công của các kinh nghiệm thiền quán ở các nhà tù Ấn Độ thúc đẩy Viện Y Tế Quốc Gia Mỹ tài trợ cho đại học Washington để nghiên cứu việc áp dụng thực tập thiền quán tại một nhà tù ở Seattle. Những tù nhân nào phạm tội nhiều lần, nghiện rượu hay ma túy, hoặc bị các chứng tâm thần được chọn lựa để tham dự. Các nhà nghiên cứu làm một cuộc thử nghiệm có kiểm soát, nghĩa là có một nhóm tham dự và một nhóm khác không tham dự, xem thực tập thiền quán Vipassanan có ngăn ngừa các tù nhân tái phạm tội và có làm họ cai rượu hay cai thuốc phiện không.

    Ba tháng sau khi được trả tự do, con số các tù nhân nghiện rượu và thuốc phiện có tham dự thực tập thiền quán đă giảm mức nghiện ngập một cách đáng kể. Mức độ căng thẳng tinh thần của các tù nhân này cũng giảm bớt và nhiều tù nhân cho biết họ đă tự kiểm soát rất nhiều ư muốn phạm tội bột phát. Hai năm sau kể từ khi được thả tự do, tỷ lệ tù nhân đă tham dự khóa thiền quán tái phạm giảm xuống c̣n 56% so với tỷ lệ 75% của nhóm tù nhân không tham dự lớp thiền quán.

    Trong khi các nhà khoa học rất phấn khởi về những kết quả từ cuộc thử nghiệm với Ricard, Ekman nói là việc nghiên cứu về ảnh hưởng của thiến quán chỉ mới ở giai đoạn bắt đầu. Ekman nói: “nếu muốn t́m hiểu ảnh hưởng lâu dài của thiền quán, cần phải nghiên cứu những người từ lúc chưa bắt đầu thực tập thiền và theo dơi họ cho đến 20 hay 30 năm sau, nhưng chúng ta có thể học rất nhiều về phương pháp thực tập thiền quán của đạo Phật. Tuy nhiên chúng ta phải lượng giá các ảnh hưởng này một cách rốt ráo.” Những kết quả từ cuộc thử nghiệm với Ricard phải được lập lại khi thử nghiệm với các nhà sư khác. Một nhà sư thứ hai có tŕnh độ tu chứng tương đương với Ricard cho thấy có những kết quả tương tự. Ekman nghĩ là có một hay hai yếu tố đóng góp vào việc tạo ra các kết quả này, tuy nhiên ông từ chối thảo luận chi tiết cho đến khi có nhiều cuộc thử nghiệm có kiểm soát được thực hiện.

    Owen Flannagan thuộc Duke University đă tường tŕnh về cuộc thử nghiệm của Davidson trên tập san New Scientist. Là tác giả một số sách bàn về bản chất của ư thức, Flanagan có thực tập thiền quán, ông nghĩ phải nghuiên cứu ảnh hưởng lâu dài của thiền quán trên những người thường, không sống cuộc đời của một nhà sư. Ông cũng nghi ngờ thiền quán không phải là lư do duy nhất giúp các nhà sư có đời sống an lạc.

    Flanagan nói: “Nếu chúng ta thấy các nhà sư sống an lạc hơn ccá người khác, tôi nghĩ có thể không phải tại v́ họ thực tập thiền quán, mà v́ toàn thể lối sống của một nhà sư mà họ đă chọn lựa. Cho nên làm thử nghiệm với các nhà sư sống ẩn dật trong các hang động không lợi ích ǵ lắm v́ phần lớn chúng ta không ai sống một cuộc đời cô tịch như vậy.”

    Các cuộc thử nghiệm nàylàm nẩy sinh ra nhiều câu hỏi hơn là đưa ra các câu trả lời. Tuy nhiên các câu hỏi này làm Paul Ekman rất phấn khởi. Ông nghĩ là nên có nhiều công tŕnh nghiện cứu khoa học về ảnh hưởng của thiền quán, nhưng có nhiều đồng nghiệp của ông vẫn c̣n nghi ngờ chuyện này, như trước đây chính ông đă nghi ngờ cho tới khi ông gặp Đức Đạt Lai Lạt Ma: “Phần lớn các khoa học gia vẫn chưa tin là khoa học có thể học hỏi ǵ từ phương pháp thực tập thiền quán của đạo Phật. Họ nghĩ là các kết quả này chỉ do trí tưởng tượng mà thôi”

    Tuy nhiên Flanagan không quan tâm lắm đến những lời chỉ trích này. Ông nói: “Ba chục năm trước đây nhiều người nghĩ là tôi điên khi tôi để tâm nghiên cứu về những biến chuyển của nét mặt con người. Nhà nhân chủng nổi tiếng Margaret Mead đă từng chê tôi phí phạm th́ giờ!”

    Đối với các nhà sư tu tập trong các hang động, phí phạm th́ giờ (để chạy theo những ham muốn vô thường) chính là điều họ lo ngại.

    Quán Như viết theo Kim Zetter, Good Weekend, The Sydney Morning Herald, August 30, 2003.

    Trong bài hai từ ngữ thiền quán và thiền định được dùng tương đương như nhau dù ư nghĩa của chúng có hơi khác nhau. Để biết thêm các kỹ thuật thiền quán và thiền định quư vị có thể đọc thêm các tác phẫm sau đây:

    Chú thích

    1. Nhất Hạnh, Kinh Quán Niệm Hơi Thở (dịch và chú giải), Pháp Bảo, Sydney 1990

    2. Thích Thanh Từ, Vào Cửa Thiền, Pháp Bảo, Sydney 1988

    3. Thích Trí Siêu, Thiền Tứ Niệm Xứ, Pháp Bảo, Sydney 1991

    4. Thích Nhất Hạnh, The Miracle of Mindfulness, Beacon Press, Boston, 1987

    5. Thich Nhất Hạnh, The Sutra on the Full Awareness of Breathing, Parallax Press, Berkeley, California, 1988.

    6. Buddhadasa, Mindfulness with Breathing, Wisdom Publications, 1996.
     
    Last edited by a moderator: 2 Tháng chín 2017
  4. Guardian Angel

    Guardian Angel Hội Viên Kim Cương

    Tham gia ngày:
    19 Tháng tám 2006
    Bài viết:
    25
    Điểm thành tích:
    0
    Ðề: 'Thiền định' với sức khỏe

    Ngày hôm qua được nghe Thượng Tọa Thích Tịnh Từ thuyết pháp thật hay; chỉ cần mỗi ngày bỏ ra 5- 10 phút tập thể dục và 5- 10 phút thiền định sẽ giúp cho sức khỏe tốt đẹp hơn và tuổi thọ cũng tăng lên.
    Bài giảng thật giản dị và dễ nhớ.
     
  5. khanh67

    khanh67 New Member

    Tham gia ngày:
    15 Tháng chín 2006
    Bài viết:
    13
    Điểm thành tích:
    0
    Ðề: 'Thiền định' với sức khỏe

    Bài viết hay quá , xin cảm ơn
     

Chia sẻ trang này